Tảo mộ, tảo tháp

Đăng lúc: Thứ bảy - 20/01/2018 04:40 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
Nếu như lễ tảo mộ của người Trung Hoa nhằm vào tiết Thanh minh, mà cũng là hội Đạp Thanh cho nam thanh nữ tú du xuân, đúng như được miêu tả bởi nhà thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều:
Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
 
Thì không giống như lễ tảo mộ của người Việt Nam ta. Lễ tảo mộ của dân tộc ta khởi sự từ nửa sau tháng Chạp và kéo dài cho đến Tết. Và đúng như tên gọi của nó, là quét dọn mồ mả cho sạch sẽ, chứ không có gì là dạo choi, vui chơi cả. Có lẽ xuất phát từ quan niệm “dương sao âm vậy”, nên trong khi người còn sống lo dọn dẹp nhà cửa cho tươm tất, mới mẻ để đón Tết thì họ cũng làm như thế đối với những người quá cố. Vì thế, đối với người Việt Nam, lễ tảo mộ mang một ý nghĩa rất sâu sắc về đạo hiếu, nói lên lòng tri ân của con cháu đối với cửu huyền thất tổ. Về phần tôi, tôi nhớ mãi không quên những lần tảo mộ như thế ở quê nhà, khi tôi hãy còn tấm bé.
 
Từ chiều hôm trước tôi đã thấy các chú, bác, cậu, mợ, dì, dượng… ở xa lục tục tụ về nhà tôi, để cho kịp công việc tảo mộ hôm sau, thường được bắt đầu từ rất sớm, khoảng 3 hay 4 giờ sáng. Những người bà con ở xa ấy cũng không quên mang theo lễ vật để góp với gia đình tôi; người ôm cặp vịt, người đội mâm xôi, có người xách theo hũ cơm rượu, cũng có người chỉ cầm vài bịch kẹo thèo lèo…Và đêm đó thì hầu như là không có ai ngủ được cả; mọi người thức nói chuyện gần như suốt cả đêm. Đàn ông thì nhâm nhi ly rượu. Đàn bà thì nấu nướng chuẩn bị đồ cúng cho ngày mai. Đám trẻ con cũng rạo rực không yên; chúng chạy đầu này, nhảy đầu kia, đến khi mệt quá thì nằm thiếp ngay trên đùi của mẹ, trong khi bà ấy vừa quạt muỗi cho chúng vừa…tào lao ba xích đế với bà con chòm xóm. Vừa chợp mắt được một chút thì đã nghe tiếng kêu cửa (chứ không phải bấm chuông như ở thành phố). Đại khái như: Chú Sáu ơi, dậy chưa? Có người rắn mắt, mới 12 giờ đêm đã đem pháo ra đốt ì xèo không chịu để cho ai ngủ. Trên đường đi ra nghĩa trang cũng sẽ gặp những gia đình khác. Tiếng gọi nhau í ới thật là vui nhộn. Trong khi người lớn dẫy cỏ thì bọn con nít chúng tôi vừa quét, vừa gom cỏ lại chất thành đống, sau đó nổi lửa đốt. Lửa sáng bừng cả một vùng trời cũng là để xua đi cái lạnh mùa đông. Dụng cụ quét mộ phải sạch, dụng cụ không sạch mà quét lên mộ mang tội. Nếu là chổi thì phải là chổi mới chưa sử dụng một lần nào, nhưng thường thì người ta quét bằng tàu lá dừa, nhánh trâm bầu mà bọn trẻ đã nô nức chuẩn bị sẵn (bó lại) từ chiều hôm trước, vừa tiện lợi lại vừa…. không tốn tiền.
 
Sau khi dẫy mả tại điểm tập trung xong, người ta lại chia nhau đi tảo mộ ở những ngôi mả nằm lẻ tẻ những nơi khác, có khi rất xa, hoặc chỉ là nấm mộ không tên không tuổi. Dù không biết đó là mộ của ai nhưng người dân cứ thấy chỗ nào nhô nhô lên một chút là cứ làm cho sạch sẽ rồi thắp trước mộ một vài nén hương. Ta còn nhớ trong Truyện Kiều, nàng Thúy Kiều trên đường về cũng đã gặp nấm mộ vô chủ (sau khi hỏi ra mới biết là mộ của Đạm Tiên). Bùi ngùi khi nhìn thấy cảnh:
 
Sè sè nắm đất bên đàng
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Rằng sao trong tiết Thanh minh
Mà đầy hương khói vắng tanh thế mà.
 
Cho nên nàng:
 
Đã không kẻ đoái người hoài
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương.
Để gọi là ấm hồn người nơi đáy mộ.
 
Trở lại với lễ tảo mộ ở Việt Nam ta, ta thấy rằng sau khi tảo mộ xong, mọi người lại trở về gia đường để cúng kiếng. Trong khi bọn trẻ chúng tôi nôn nóng chờ cúng cho xong để được ăn cổ thì người lớn cho rằng phải chờ tàn hết cây nhang mới được dọn xuống. Tôi không biết tại sao phải đợi tàn hết cây nhang như thế. Có phải người xưa nghĩ rằng cháy hết cây nhang thì người âm mới ăn xong, hay đó chỉ thể hiện sự thành kính, kính trọng đơn thuần? Đối với một số gia đình trẻ ngày nay thì vái xong là bưng xuống liền. Vì họ cho rằng để lâu như thế, một là thức ăn bị nguội lạnh ăn không ngon, hai là sợ khói bụi rớt vào mất vệ sinh. Cách nhìn khoa học như thế cũng hay, tuy nhiên tôi thấy rằng như vậy thì hình như là mình cúng…. cho mình, chứ không phải cúng cho ông bà đã khuất. Hơn nữa, tôi có chứng kiến một sự việc tại một ngôi chùa ở Lái Thiêu. Đó là một lần nọ, một đứa cháu của sư cô trụ trì lên chùa chơi. Cúng vong vừa xong nó bưng dĩa bánh xuống ăn liền. Ngay lập tức nó bị vong nhập vào nói rằng “người ta ăn chưa xong mà bưng xuống”. Nhìn bằng cặp mắt của con người ngày nay thì một số việc làm của người xưa nếu không phải mê tín thì cũng là quá cẩn thận, nhưng ta thấy rằng trong đó vẫn có điều gì đó để cho ta phải kính trọng, không thể xem thường vậy.
 
Nếu ở thế tục người ta gọi là lễ tảo mộ, thì trong nhà chùa, các vị xuất gia gọi là lễ tảo tháp. Đó là chư vị Tăng Ni sau khi viên tịch, thay vì lập mộ như người thế gian, họ được “đặc cách”xây tháp. Trong kinh Đức Phật dạy có bốn hạng người xứng đáng được xây tháp là Như Lai, vua Chuyển luân Thanh vương, Bích chi Phật, và Tứ quả thanh văn. Trong kinh Du Hành (Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm dịch, Trường A-hàm 1. Viên Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành, 1991, trang 159), Đức Phật cũng dặn Tôn giả A Nan phải xây tháp của Ngài “thờ tại ngã tư đường để những đi ngang qua trông thấy tháp Phật mà tưởng nhớ Đức Như Lai đã dùng chánh pháp giáo hóa chúng sanh, ngõ hầu [những người ấy] sống được phước lợi, thác được sanh thiên”. Chư Tăng Ni có thể được coi là thuộc về hàng ngũ đệ tử Thanh văn của Đức Phật, nên được phép xây tháp để người đời sau phụng thờ vậy. Cách thức tảo tháp cũng không khác gì tảo mộ, nhưng phần nghi lễ thì trang trọng hơn. Như phải lạy trước mỗi tháp, nhiễu tháp…
 
Lễ tảo mộ hay tảo tháp từ lâu đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Đó là sự gặp gỡ giữa cõi âm và cõi dương, giữa quá khứ và hiện tại, cũng là dịp để dòng họ, tông môn họp mặt với nhau, cùng nhau hồi tưởng về người đã khuất. Cũng trong không gian ấy bao nhiêu câu chuyện được ôn lại, mở ra: ngôi mả hay ngôi tháp này là của ai, họ có những công trạng gì, đã chết như thế nào, tại sao lại chôn ở đây mà không chôn ở chỗ khác. Hoặc mả này là của một địa chủ gian ác, nhưng con cháu lại nghèo mạt đến nỗi phải bỏ quê đi sinh sống xứ người nên mới bị bỏ hoang như vầy… Mỗi năm là mỗi câu chuyện mới mẻ mà những trướng bối hàn huyên với nhau hoặc kể lại cho con cháu nghe. Trong đó không ít câu chuyện mang màu sắc hoang đường. Tuy nhiên bao giờ cũng là những câu chuyện vô cùng hấp dẫn. Năm ngoái tôi về tảo tháp ở chùa STLT ở TG, tôi được nghe một câu chuyện thú vị do thấy Minh Chí chùa Tiên Long kể. Rằng có một vị Linh mục nọ hỏi một vị Hòa thượng một câu cắc cớ rằng: Phật giáo chủ trương Phật có khắp mười phương, vậy thì chỗ nào làm cầu tiêu? Hòa thượng cũng không vừa, đáp ngay: Chỗ nào không đốt nhang thì làm. Ngài trả lời như vây vì biết hồi đó đạo Thiên Chúa chủ trương không đốt nhang. Có thể có nhiều người biết câu chuyện này, nhưng chắc ít ai biết được Hòa thượng và Linh mục trong câu chuyện thực sự là ai. Đó không ai khác chính là Hòa thượng Đạo Thành, nguyên trụ trì chùa STLT. Còn vị Linh mục thì ở nhà thờ gần đó. Thật ra hai vị là “hàng xóm”của nhau, quan hệ với nhau rất tốt đẹp. Sự đối đáp trên chỉ là trò chơi văn chương chữ nghĩa của hai nhà trí thức. Nhưng người sau không hiểu, hoặc vì dụng ý xuyên tạc đã đem câu chuyện ấy ra làm đầu đề cho sự chia rẽ tôn giáo. Thật là một sự bất kính đối với người xưa lắm vậy.
 
Ngày nay dân số càng ngày càng tăng, đất xây dựng ngày càng lấn chiếm cả đất làm ruộng. Đất đai còn không đủ chỗ cất nhà cho người sống ở thì có chỗ đâu để chôn người chết. Rồi dần dần người ta cũng sẽ hỏa táng hết thôi. Hồi còn bé, mẹ hay dắt tôi về quê ngoại tảo mộ. Nhưng năm nào mà mẹ tôi dự định bắt tôi phải ở nhà thì tôi vội vàng thưa với mẹ rằng: “Mẹ ơi, cho con đi theo đi. Con sẽ quét mộ ông bà ngoại sạch như quét nhà của ông bà hồi đó vậy”. Và thế là mẹ tôi cho tôi đi theo dù hai tay Người đã bận xách hai giỏ đồ: “Nhưng phải nhớ là nắm đuôi áo mẹ kẽo lạc đường nghe không”, mẹ tôi dặn.
 
Tôi có đọc được ở đâu đó một nhà văn nào đã triết lý rằng, nếu có một nơi nào đó để cho tâm hồn ta phải khắc khoải nhớ về, thì một là nơi đó có người mình yêu, và hai là nơi đó có nấm mồ người thân của mình. Nhưng khi không còn nấm mồ làm nơi “tử quy”thì người ta biết nhớ về nơi nao? Và rồi, những đứa trẻ của các thế hệ sau này cũng không còn cái háo hức chờ đợi để được đi quét mộ ông bà lúc sắp Tết nữa. Thế hệ ấy không được hưởng cái không khí rộn ràng mà sâu lắng của đêm tảo mộ. Cuộc đời thì cứ đi tới, còn những sự mất mát ấy thì ta biết hỏi ai? 
 
Hữu Huệ - Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 98-99 Xuân
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Thăm dò ý kiến

Nhờ đâu bạn biết đến website phatgiaoaluoi.com?

Sự giới thiệu của bạn bè

Tình cờ tìm gặp trên google

Tình cờ tìm gặp trên Yahoo search

Tình cờ tìm gặp trên facebook

Công cụ tìm kiếm khác

Giới thiệu

Chào mừng quý vị ghé thăm website http://phatgiaoaluoi.com

   GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN A LƯỚI BAN TRỊ SỰ Văn phòng: Niệm Phật đường Sơn Thủy, thôn Quảng Phú, xã Sơn Thủy, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Điện thoại: 090 501 2992 - Email: phatgiaoaluoi@gmail.com Website: www.phatgiaoaluoi.com LỜI NÓI ĐẦU Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni...

Thống kê

  • Đang truy cập: 103
  • Khách viếng thăm: 99
  • Thành viên online: 1
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 19251
  • Tháng hiện tại: 462547
  • Tổng lượt truy cập: 23447265
Xem bản: Desktop | Mobile

Xin ghi rõ nguồn chính khi trích dẫn thông tin từ website này.

Ngày thành lập : 12-09-2012