Tiểu sử Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu (1918 -2012)

Đăng lúc: Thứ tư - 03/10/2012 23:07 - Người đăng bài viết: Ban quản trị
(PGAL) - Nam mô Tự Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tam Thế, Xuân Kinh Tường Vân Tổ Đình Trú Trì, Hồ Chí Minh Thị Vạn Hạnh Thiền Viện Khai Sơn, Sung Việt Nam Phật Giáo Giáo Hội, Chứng Minh Hội Đồng, Phó Pháp Chủ, Húy thượng Tâm hạ Trí, Tự Minh Châu, Hiệu Viên Dung Trưởng Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.
Tiểu sử Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu (1918 -2012)

Tiểu sử Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu (1918 -2012)

TIỂU SỬ
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU
(1918 - 2012)
-     Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam
-     Nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII, IX và X
-     Huân chương Hồ Chí Minh
-     Huân chương Độc lập hạng nhì
-     Huân chương Đại Đoàn kết
-     Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN
-     Nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS GHPGVN
-     Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục GHPGVNTN
-     Nguyên Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh
-     Nguyên Viện trưởng sáng lập Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam – Chủ tịch Hội đồng phiên dịch Đại Tạng kinh Việt Nam
-     Nguyên Hiệu trưởng Trường Cao cấp PHVN, Cơ sở I, chùa Quán sứ, Hà Nội
-     Nguyên Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. HCM
-     Trú trì Tổ Đình Tường Vân, Tp. Huế, Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh, Tp. HCM.
 
 
 
I. THÂN THẾ
Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam là đệ tử của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết Đệ nhất Tăng Thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); Nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng Giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, cho nên, Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm.
Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ Tú tài Toàn phần tại trường Khải Định - Huế (nay là trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký tòa Khâm sứ, tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm làm việc, Hòa thượng thấy nhiều bất công trong khâu xét xử nên đã xin thôi việc.
II. THỜI KỲ TÌM HIỂU GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT VÀ XUẤT GIA HỌC ĐẠO
1. Tìm hiểu giáo lý đạo Phật:
Năm 1932, Hội An Nam Phật học ra đời, phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung nở rộ. Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là nhà trí thức yêu nước cũng là một Phật tử được bầu làm Hội trưởng kiêm Chủ bút tạp chí Viên Âm. Phong trào học Phật do Bác sĩ tổ chức có nhiều trí thức yêu nước tham gia như: Ngô Điền, Phạm Hữu Bình, Võ Đình Cường…
Hòa thượng cùng em là Đinh Văn Vinh đến với phong trào học Phật từ năm 1936 do Bác sĩ Lê Đình Thám giảng và đảm nhiệm chức Chánh Thư ký của Hội. Kể từ đó, Hòa thượng gắn liền với Hội, là hạt nhân nòng cốt phát động phong trào yêu nước chống Pháp và phát động thanh niên tham gia học Phật. Hòa thượng là người đi đầu trong các phong trào này. Với tư cách là một Phật tử, bên cạnh cụ Hội trưởng Tâm Minh Lê Đình Thám, Hòa thượng đã hoạt động tích cực về nhiều mặt, giúp phát triển Phật sự của 17 Tỉnh hội Phật giáo miền Trung.
Trong phong trào Thanh niên nghiên cứu đạo Phật, Hòa thượng là một trong những người sáng lập Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục và Gia đình Phật hóa phổ (tên cũ của Tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam sau này). Trong công cuộc chấn hưng Phật giáo từ Cố đô Huế đến các tỉnh Trung bộ, ngay từ buổi đầu Hòa thượng đã có nhiều cống hiến đáng kể như vận động một số Phật tử Hội viên của Hội quyên góp, bảo trợ cho Trường Phật học Báo Quốc, Tòng lâm Kim Sơn; lúc nạn đói dưới thời kỳ Nhật chiếm đóng, Ngài đã giúp sơ tán Học tăng vào Nam bộ do Hòa thượng Thích Thiện Hoa hướng dẫn và gởi gắm các nơi khác có điều kiện hơn…
 
 
            2. Xuất gia tu học:
Trong thời gian làm việc ở Hội quán, Hòa thượng đã học hỏi và thâm hiểu giáo lý Đại thừa từ Bác sĩ Lê Đình Thám cùng Quý vị Tôn túc trong Sơn môn Thừa thiên Huế; Thời gian này, Ngài vào ở hẳn trong chùa Tường Vân.   
Năm 1946, Ngài đầu sư với Hòa thượng húy thượng Trừng hạ Thông, tự Chơn Thường hiệu Tịnh Khiết (Đức Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN) tại Tổ đình Tường Vân, thuộc làng Hạ I, xã Thủy Xuân, thành phố Huế và được Bổn sư ban cho pháp danh là Tâm Trí, tự Minh Châu. Trải qua những tháng ngày hầu Thầy và chấp tác nặng nhọc tại Tổ đình cũng như việc Hội, nhưng Hòa thượng không bao giờ trễ nải. Người lúc ấy vừa là giảng sư, vừa là chú Điệu đang tập sự thực hành nếp sống Thiền môn. Công đức đã đầy đủ, năm 1949 (Kỷ Sửu), Hòa thượng được Bổn sư cho phép thọ Cụ túc giới tại giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc do chính Bổn sư làm Đàn đầu Hòa thượng. Trong Đại giới đàn này, Hòa thượng được Hội đồng Thập sư đặc cách cho thọ Tam Đàn cụ túc. Sau khi đã dự vào hàng Chúng trung tôn, Hòa thượng vẫn không ngừng sinh hoạt với Hội Phật học Trung phần, chuyên cần diễn giảng Phật pháp khắp các chùa Hội, hướng dẫn các thanh, thiếu niên của Gia đình Phật tử, đóng góp bài viết cho tạp chí Viên Âm, Từ Quang, Liên Hoa… Năm 1951, khi Hội thành lập trường Trung học Bồ Đề đầu tiên ở Huế thì Hòa thượng được mời giữ chức Hiệu trưởng.
Năm 1951, Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam ba miền thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Từ Đàm - Thuận Hóa (Huế), Hòa thượng là đại biểu chính thức tham dự Hội nghị.
3. Xuất dương du học:
Năm 1952, được sự chấp thuận của Giáo hội Tăng già Việt Nam và Hòa thượng Bổn sư, Hòa thượng xuất dương du học tại Sri-Lanka, học Pali và anh văn tại Colombo. Năm 1955, Hòa thượng được trường Đại học Tích Lan tặng bằng Pháp sư (Saddammacariya). Sau đó, Hòa thượng sang Ấn Độ và theo học tại Nava Nalanda Mahavihara thuộc Đại học Bihar. Trong thời gian du học tại đây, năm 1957 Hòa thượng đã diện kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân chuyến thăm hữu nghị Ấn Độ của Người.
Năm 1958, Hòa thượng liên tiếp đỗ các văn bằng cử nhân Pali và Anh văn, đặc biệt đỗ Thủ khoa M.A (Cao học) về Pali và Abhidhamma. Với luận án: “So sánh tập Pali Trung bộ kinh với tập Trung A hàm chữ Hán”, (The Chinese Madhyama Agama and The Pali Majjhima Nikaya), tháng 09 năm 1961, Hòa thượng là người Việt Nam đầu tiên đỗ Tiến sĩ Phật học, Văn học Pali tại Ấn Độ và được Tổng thống Ấn Độ thời ấy đứng ra trao văn bằng Danh dự và khen ngợi không ngớt về luận văn này.
Năm 1962-1963, Hòa thượng được Đại học Bihar (Ấn Độ) mời ở lại giảng dạy và tại đây, Hòa thượng đã biên tập nhiều tác phẩm bằng tiếng Anh.
Năm 1964, Hòa thượng trở về nước, tiếp tục trước tác và dịch thuật nhiều tác phẩm có giá trị cho hàng Xuất gia và tại gia tu học.
 
III.  THỜI KỲ HANH ĐẠO:
Năm 1964, ngay khi về nước, Hòa thượng được GHPGVNTN mời giữ chức Phó Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Sài gòn, do Hòa thượng Trí Thủ làm Viện trưởng, trụ sở đặt tại chùa Pháp Hội - Chợ Lớn.
Đến năm 1965, Viện Cao đẳng Phật học Sài gòn được đổi thành Viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1966, với tư cách là Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Giáo dục, Hòa thượng đã trình với Giáo hội và được Giáo hội cho phép tiến hành xây dựng cơ sở mới tức là Viện Đại Học Vạn Hạnh. Lễ đặt đá được đặt dưới sự chứng minh của Đức Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVN TN Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết tại số 222 đường Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), do Hòa thượng làm Viện trưởng. Viện mở thêm 4 Phân khoa và một trung tâm: Phân khoa Phật học (Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Khoa trưởng), Phân khoa Văn Khoa (Cố Hòa thượng Thích Thiên Ân, Cố Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục làm Khoa trưởng), Phân khoa Khoa học Xã hội (Giáo sư Tôn Thất Thiện, Bùi Tường Huân làm Khoa trưởng), Phân khoa Giáo dục (Đại đức Thích Nguyên Hồng làm Khoa trưởng), Trung tâm Ngoại ngữ (Giáo sư Cẩm Huỳnh làm Giám đốc).
Năm 1972, Hòa thượng mở thêm Phân khoa Khoa học Ứng dụng tại đường Võ Duy Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm), quận Phú Nhuận. Để ổn định về mặt tổ chức, các Phân khoa của viện Đại Học Vạn Hạnh lúc mới mở đều do Hòa thượng làm khoa trưởng. Về mặt Văn hóa, Hòa thượng còn đảm nhiệm chức vụ Chủ biên Tạp chí Tư tưởng Vạn Hạnh từ năm 1964 - 1975.
Sau ngày miền Nam giải phóng, Đại học Vạn Hạnh giao cho Bộ Giáo dục quản lý. Phân khoa Phật học được chuyển về Trụ sở Phân khoa Khoa học Ứng dụng và đổi thành Viện Phật học Vạn Hạnh, do Hòa thượng làm Viện trưởng và Thiền viện Vạn Hạnh cũng do Hòa thượng làm Viện chủ.
Năm 1980, Hòa thượng cùng Chư Tôn Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Giới Nghiêm, Hòa thượng Thích Bửu Ý, Hòa Thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Thiện Châu, Hòa thượng Thích Từ Hạnh, Hòa thượng Thích Giác Toàn cùng với các cư sĩ Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Văn Chế, Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm ở phía Nam cùng với Chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa ở phía Bắc lãnh đạo các Hệ phái Phật giáo thành lập Ban vận động thống nhất Phật giáo nước nhà, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Trưởng ban, Hòa thượng làm Chánh Thư ký Ban Vận động. Đến ngày 07/11/1981, tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội, Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc đã thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng được Đại hội suy cử giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN liên tiếp ba nhiệm kỳ I, II và III (1981-1997).
Cũng trong năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 1 tại Chùa Quán Sứ - Hà Nội, do Hòa thượng làm Hiệu trưởng.
Năm 1984, GHPGVN thành lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 2 tại Viện Phật học Vạn Hạnh – Tp. Hồ Chí Minh, do Hòa thượng làm Hiệu trưởng. Đến năm 1997, được sự cho phép của Chính phủ, Trường Cao cấp Phật học đổi thành Học viện Phật giáo Việt Nam.
Năm 1989, khi Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập, Hòa thượng được Giáo hội cử làm Viện trưởng. Năm 1991, Hòa thượng thành lập Hội đồng Chỉ đạo phiên dịch và Ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam do Hòa thượng làm Chủ tịch.
Tháng 11 năm 1997, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Nhiệm kỳ IV (1997-2002), Hòa thượng được Đại hội suy tôn vào ngôi  vị Thành viên Hội đồng Chứng minh và suy cử chức vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN liên tiếp hai nhiệm kỳ IV và V (1997-2007).
Tháng 12 năm 2007, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Nhiệm kỳ VI (2007-2012), toàn thể Đại hội đã suy tôn Hòa thượng lên ngôi vị Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
Từ tháng 5 năm 1981 - 2002, Hòa thượng là Đại biểu Quốc hội các khóa từ khóa VII đến khóa X; cũng trong thời gian này Hòa thượng được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Xã hội Tp. Hồ Chí Minh.
1.      Công trình biên soạn và phiên dịch kinh tạng:
Dù bận rộn nhiều công tác Phật sự, nhất là sự nghiệp giáo dục của Giáo hội, nhưng Hoà thượng vẫn dành nhiều thời gian để dịch thuật và biên soạn hàng trăm tác phẩm có giá trị học thuật cao, là tài liệu học tập và nghiên cứu Phật học của nhiều thế hệ Tăng Ni và tín đồ Phật giáo Việt Nam, như Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh, Tiểu Bộ kinh, các Bộ luận, các tác phẩm bằng tiếng Anh, tiếng Việt, sách nghiên cứu, giảng dạy v.v…  
2.      Nhiếp hóa đồ chúng, xây dựng cơ sở:
Với nhiều Phật sự của Giáo hội, giáo dục Tăng Ni, phiên dịch kinh tạng và trước tác, nhưng Hòa thượng vẫn luôn nhớ về nguồn cội - nơi mình đã xuất gia học đạo. Vì thế, sau khi Hòa thượng Vĩnh Thừa kế vị đức Tăng thống, trú trì Tổ đình Tường Vân viên tịch, Hòa thượng được Giáo hội và toàn thể chư Tôn túc, Tăng Ni, môn phái Tổ đình Tường Vân suy tôn lên ngôi vị Trú trì Tổ đình năm 1985 dưới sự chứng minh của Chư tôn Trưởng lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thích Mật Hiển, Thích Thiện Siêu… Trong cương vị Trú trì, Hòa thượng đã nhiếp hóa đồ chúng, tổ chức giới đàn Sa di Phương trượng cho Tăng chúng trong nội phái và chỉ đạo xây dựng, sửa sang một số công trình: cổng tam quan, khu Bảo tháp chư Tổ và Bổn sư…
Tại Thiền viện Vạn Hạnh năm 2001, với trách nhiệm là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh, Hòa thượng đã làm lễ khởi công xây dựng cơ sở Viện Nghiên cứu Phật học và Học viện trong khuôn viên Thiền viện Vạn Hạnh, một cơ sở khang trang bề thế cho GHPGVN, đồng thời đại trùng tu ngôi Chánh điện, đến tháng 10 năm 2004 thì các công trình được hoàn tất. Tháng 09 năm 2005, Ngài cho xây dựng mới ngôi Tăng xá và đến tháng 10 năm 2006 tổ chức Lễ khánh thành và tạ ơn Tam bảo.
3.      Công tác đối ngoại:
Với trách nhiệm là Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Quốc tế Trung ương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP), Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam, Hòa thượng đã tham dự nhiều Hội nghị, Hội thảo Quốc tế tại các Quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Pháp, Cộng hòa Liên bang Nga, Tiệp Khắc, Ấn Độ, Srilanka, Mông Cổ, Úc, Ý, Canada, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan v.v…  
Với những đóng góp, cống hiến cho đạo pháp và dân tộc, Hòa thượng đã được Giáo hội, Nhà Nước, Uỷ ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cấp chính quyền tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương cao quý như Huân chương Độc lập hạng nhì, Huân chương Đại đoàn kết, bằng Tuyên dương Công đức. Đặc biệt, nhân kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN (07/11/1981 – 07/11/2011), Hòa thượng đã được Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.
IV. THỜI KỲ VIÊN TỊCH:
Những việc cần làm, Hòa thượng đã làm xong, đã đến lúc gác bút, đi sâu vào thiền định, sống với hàng đệ tử xuất gia và tại gia thân tín. Năm 2006, Ngài lui về hậu liêu an dưỡng tuổi già. Giờ đây, cuộc đời của Hòa thượng như chiếc chiếu trải rộng, không phân biệt hệ phái Nam - Bắc tông, Đại thừa hay Tiểu thừa. Kinh sách, dịch thuật, trước tác của Hòa thượng đều nhằm mục đích duy nhất là trình bày một cách nguyên thủy, chính xác, trung thực lời Phật dạy, đó là giáo lý giải thoát mà Ngài đã thuyết giảng hơn 70 năm không biết mệt mỏi, như nhạn bay xa, không lưu lại dấu tích.
Đúng vào mùa Vu Lan PL. 2556, lúc 9h00 sáng ngày 01 tháng 9 năm 2012, nhằm ngày 16 tháng 7 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng đã nhẹ nhàng xả báo thân tại Phương trượng Thiền Viện Vạn Hạnh. Trụ thế 95 năm, hạ lạp 64 năm.
95 năm hiện diện ở cõi Ta bà, hơn 70 năm phục vụ cho Đạo pháp và Dân tộc, Hòa thượng đã mở trường trong Đạo và ngoài đời để đào tạo hàng ngàn Tăng Ni cấp Cử nhân Phật học cho Giáo hội; hàng chục ngàn sinh viên có bằng cấp, thành đạt phục vụ cho xã hội.
Hôm nay, mặc dù Hòa thượng đã đi vào cõi Niết bàn vô tung bất diệt, nhưng gương sáng trí tuệ và tinh thần Giáo dục cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam, tinh thần phục vụ Đạo pháp và Dân tộc suốt đời của Ngài vẫn còn mãi với non sông đất nước, với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với Phật tử ba miền Bắc, Trung, Nam, với Tăng Ni trong và ngoài nước, với Tổ đình Tường Vân, Thiền viện Vạn Hạnh và trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.
Nam mô Tự Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tam Thế, Xuân Kinh Tường Vân Tổ Đình Trú Trì, Hồ Chí Minh Thị Vạn Hạnh Thiền Viện Khai Sơn, Sung Việt Nam Phật Giáo Giáo Hội, Chứng Minh Hội Đồng, Phó Pháp Chủ, Húy thượng Tâm hạ Trí, Tự Minh Châu, Hiệu Viên Dung Trưởng Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.

Tác giả bài viết: GHPGVN
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Thăm dò ý kiến

Nhờ đâu bạn biết đến website phatgiaoaluoi.com?

Sự giới thiệu của bạn bè

Tình cờ tìm gặp trên google

Tình cờ tìm gặp trên Yahoo search

Tình cờ tìm gặp trên facebook

Công cụ tìm kiếm khác

Giới thiệu

Chào mừng quý vị ghé thăm website http://phatgiaoaluoi.com

   GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN A LƯỚI BAN TRỊ SỰ Văn phòng: Niệm Phật đường Sơn Thủy, thôn Quảng Phú, xã Sơn Thủy, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Điện thoại: 090 501 2992 - Email: phatgiaoaluoi@gmail.com Website: www.phatgiaoaluoi.com LỜI NÓI ĐẦU Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni...

Thống kê

  • Đang truy cập: 151
  • Khách viếng thăm: 57
  • Máy chủ tìm kiếm: 94
  • Hôm nay: 7746
  • Tháng hiện tại: 263970
  • Tổng lượt truy cập: 23864145
Xem bản: Desktop | Mobile

Xin ghi rõ nguồn chính khi trích dẫn thông tin từ website này.

Ngày thành lập : 12-09-2012