Lắng nghe lời Phật để sống hạnh phúc an lạc

Đăng lúc: Thứ tư - 01/08/2018 18:29 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
Đạo Phật được mệnh danh là con đường thoát khổ hay lối sống hạnh phúc an lạc dành cho hết thảy mọi người, đặc biệt là cho những ai bắt đầu quan tâm đến sự thật khổ đau của sự kiện hiện hữu và mong muốn tìm thấy con đường đi ra khỏi khổ đau.

 
Đức Phật tuyên bố đạo của Ngài dành cho người thấy (passato) người biết (jànato), chứ không phải cho người không thấy (apassato) không biết (ajànato). Người thấy người biết ở đây chỉ cho những ai quan tâm tìm hiểu sự thật khổ đau gắn liền với sự sống và mong muốn tìm thấy con đường giải thoát khổ đau nhân thế. Chỉ với thái độ suy tư chín chắn như vậy thì mới thấy ra cái hay, cái lợi lạc của đạo Phật; vì Đức Phật không dạy gì khác ngoài sự khổ (dukkha) và diệt khổ (dukkhanirodha). Có muôn vàn nỗi khổ gắn liền với đời sống con người nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhận ra. Phần lớn mọi người chỉ chú ý tới các hệ quả của khổ đau một khi chúng xảy ra và cố gắng giải quyết chúng bằng cách này hay cách khác, còn các triệu chứng của khổ đau thì ít ai quan tâm. Nói cách khác, con người thường tỏ ra lo lắng và quan tâm tới kết quả của khổ mà ít khi chú tâm xem xét và ngăn chặn nguyên nhân của khổ. Đó là lý do vì sao đời sống nhân loại ít có niềm vui.
 
Đức Phật khẳng định rằng không có ai và không gì khác chính lối sống hay hành động (nghiệp) của mỗi người nói rõ hạnh phúc hay khổ đau của người ấy. Sở dĩ con người cứ rơi vào phiền não khổ đau ấy là do thiếu hiểu biết sáng suốt, không có trí tuệ, không phân biệt được đâu là lẽ tốt-xấu, chánh-tà, thiện-ác, không thấy được thế nào là hậu quả tai hại của các hành vi bất thiện và kết quả lợi lạc của các hành động hiền thiện. Do không có trí tuệ, không phân biệt được lẽ sống nào nên theo, lối sống nào cần phải từ bỏ, con người chấp trì lối sống phi pháp, phi chánh đạo, thân làm điều ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ việc ác; kết quả là người ấy rơi vào bất hạnh khổ đau do chính các ác nghiệp mà mình đã làm và tích tập. Đức Phật lưu nhắc cho mọi người về lối sống phi pháp, phi chánh đạo dẫn đến bất hạnh khổ đau, biểu hiện qua các hành vi bất thiện của thân, khẩu, ý:
 
“Này các Gia chủ, do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo mà ở đây, một số loài hữu tình, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các gia chủ, có ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo; có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo; có ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo. Này các gia chủ, thế nào là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo?
 
Ở đây, này các Gia chủ, có người sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, tâm chuyên sát hại đả thương, tâm không từ bi đối với các loài hữu tình. Người này lấy của không cho, bất cứ tài vật gì của người khác hoặc tại thôn làng hoặc tại rừng núi không cho người ấy, người ấy lấy trộm tài vật ấy. Người ấy sống tà hạnh đối với các dục lạc, giao cấu với các hạng nữ nhân có mẹ che chở, có cha che chở, có mẹ cha che chở, có anh che chở, có chị che chở, có bà con che chở, đã có chồng, được hình phạt gậy gộc bảo vệ, cho đến những nữ nhân được trang sức bằng vòng hoa. Như vậy, này các Gia chủ, là ba loại thân hành phi pháp, phi chánh đạo. Này các Gia chủ, thế nào là bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo?
 
Ở đây, này các Gia chủ, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì Ông biết”; dầu cho người ấy không biết, người ấy nói:
 
“Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết”; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia, nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Như vậy, này các Gia chủ, có bốn loại khẩu hành phi pháp, phi chánh đạo. Và này các Gia chủ, thế nào là ba loại ý hành phi pháp, phi chánh đạo?
 
Ở đây, này các Gia chủ, có người có tham ái, tham lam tài vật kẻ khác, nghĩ rằng: “Ôi, mong rằng mọi tài vật của người khác trở thành của mình!” Lại có người có tâm sân, khởi lên hại ý, hại niệm như sau: “Mong rằng những loài hữu tình này bị giết, hay bị tàn sát, hay bị tiêu diệt, hay bị tàn hại, hay mong chúng không còn tồn tại!” Lại có người có tà kiến, có tưởng điên đảo như: “Không có bố thí, không có kết quả của bố thí, không có tế lễ, không có cúng dường, các hành vi thiện ác không có kết quả dị thục, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha, không có các loại hóa sanh, trong đời không có các Sa-môn, Bà-la-môn chân chính hành trì, chân chánh thành tựu, sau khi tự tri, tự chứng lại tuyên bố cho đời này và cho đời sau”. Như vậy, này các Gia chủ, là ba ý hành phi pháp, phi chánh đạo.
 
Như vậy do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo, này các Gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục” (1).
 
Khác với hạng người trên rơi vào lối sống phi pháp, phi chánh đạo vì không phân biệt được đâu là lẽ chánh-tà, thiện-ác, người Phật tử nhờ tiếp xúc học tập giáo pháp giác ngộ của Phật nên có sự hiểu biết sáng suốt về những gì là đúng-sai, thiện- ác, nhận thức được lý nhân quả của các nghiệp thiện ác, phân biệt rõ lẽ sống nào nên theo và lối sống nào cần phải từ bỏ. Vị ấy thiết lập lòng tin vững chắc vào Như Lai và nỗ lực theo đuổi nếp sống chân chánh hiền thiện do Đức Như Lai thuyết giảng, được mô tả như thế này:
 
“Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Đạo sư. Vị ấy suy tư như sau:
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: ‘Chớ có sát sanh”. Nay ta có sát hại như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sát sanh. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sát sanh. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: ‘Chớ có lấy của không cho”. Nay ta có lấy của không cho như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ lấy của không cho. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ lấy của không cho. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục”. Nay ta có sống theo tà hạnh trong các dục sát hại như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ tà hạnh trong các dục. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ tà hạnh trong các dục. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói láo”. Nay ta có nói láo như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ nói láo. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ nói láo. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói hai lưỡi”. Nay ta có nói hai lưỡi như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ nói hai lưỡi. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ nói hai lưỡi. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói lời độc ác”. Nay ta có nói lời độc ác như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ nói lời độc ác. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ nói lời độc ác. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói lời phù phiếm”. Nay ta có nói nói lời phù phiếm như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ nói lời phù phiếm. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ nói lời phù phiếm. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích tham dục”. Nay ta có tham dục như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ tham dục.
 
Và trong tương lai, người ấy đình chỉ tham dục. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sân hận”. Nay ta có sân hận như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sân hận. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sân hận. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
“Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích tà kiến”. Nay ta có tà kiến như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ tà kiến. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ tà kiến. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
 
Do đoạn tận sát sanh, người ấy trở thành người không sát sanh. Do đoạn tận lấy của không cho, người ấy trở thành người không lấy của không cho. Do đoạn tận sống theo tà hạnh trong các dục, người ấy trở thành người không sống theo tà hạnh trong các dục. Do đoạn tận nói láo, người ấy trở thành người từ bỏ nói láo. Do đoạn tận nói hai lưỡi, người ấy trở thành người từ bỏ nói hai lưỡi. Do đoạn tận nói lời độc ác, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời độc ác. Do đoạn tận lời nói phù phiếm, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời phù phiếm. Do đoạn tận tham, người ấy trở thành người không có tham lam. Do đoạn tận sân, người ấy trở thành người không có sân tâm. Do đoạn tận tà kiến, người ấy trở thành người theo chánh kiến” (2).
 
Trên đây là lẽ sống sáng suốt, chân chánh, hiền thiện mà một người có lòng tin tưởng ở Đức Như Lai và giáo pháp do Như Lai thuyết giảng sẽ nỗ lực thực hiện. Người ấy biết lắng nghe và nỗ lực sống theo lời Phật dạy, quyết tâm từ bỏ ác nghiệp và thực hành thiện nghiệp. Hẳn nhiên, đây là lẽ sống thiết thực lợi lạc mà bất cứ người nào có suy tư chín chắn và có hiểu biết sáng suốt về ý nghĩa và giá trị của sự sống đều chấp nhận theo đuổi. Đức Phật nói cho chúng ta biết rằng không phải mọi người sinh ra ở trên đời này đều có sẵn “thuận duyên” để sẵn sàng tiếp thu giáo pháp chân chánh hiền thiện của Ngài. Do nghiệp duyên mà có người cảm thấy thoải mái và dễ dàng trong nếp sống thực hành pháp giác ngộ của Phật, nhưng cũng do nghiệp duyên mà có người cảm thấy khó chịu và khó khăn trong khi dốc tâm theo đuổi giáo lý “đi ngược dòng” (nghĩa là đi ngược lại với tập quán tham-sân-si của chúng sanh) do Ngài giảng dạy (3). Nhưng dù ở hoàn cảnh nào thì sự nỗ lực sống theo thiện pháp, sống theo chánh đạo do bậc Giác ngộ giảng dạy đều là dấu hiệu đáng vui mừng và đáng trân trọng; vì đó là lẽ sống chân chánh hiền thiện, vừa có khả năng ngăn chặn các ác nghiệp phát sinh đưa đến khổ đau trong hiện tại, vừa dự báo một tương lai tương sáng an lạc nhờ nuôi dưỡng và tích tập các thiện nghiệp.
 
Bậc Giác ngộ lưu ý cho chúng ta về hai cảnh ngộ khác nhau của những người có chung tâm trạng là quyết tâm theo đuổi giáo pháp giác ngộ của Ngài. Trường hợp thứ nhất là hạng người nỗ lực thực thi giáo pháp của Ngài với một một tâm lý hết sức khó khăn, giống như phải sử dụng “thuốc đắng” để mà “dã tật”. Trường hợp thứ hai là hạng người sống theo giáo pháp của Ngài với một tâm lý rất thoải mái, tựa như được thưởng thức vị thuốc bổ thơm ngon vậy. Tuy đối diện với các cảnh ngộ khác nhau do nghiệp duyên sai biệt nhưng cả hai đều xứng đáng được tán thán và trân trọng, vì cùng có chung một nỗ lực chính đáng và mục tiêu cao cả là hướng đến một tương lai tươi sáng tràn đầy hạnh phúc an lạc được xây dựng bởi các công đức thiện nghiệp. Đức Thế Tôn nói về hai hạng người này như sau:

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với khổ với ưu, từ bỏ sát sanh, và do duyên từ bỏ sát sanh, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ lấy của không cho, và do duyên từ bỏ lấy của không cho, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tà hạnh trong các dục, và do duyên từ bỏ tà hạnh trong các dục, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời vọng ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời vọng ngữ, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời hai lưỡi, và do duyên từ bỏ nói lời hai lưỡi, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời ác ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời ác ngữ, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ nói lời phù phiếm, và do duyên từ bỏ nói lời phù phiếm, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tâm tham ái, và do duyên từ bỏ tâm tham ái, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tâm sân hận, và do duyên từ bỏ tâm sân hận, cảm thọ khổ ưu; với khổ, với ưu, từ bỏ tà kiến, và do duyên từ bỏ tà kiến, cảm thọ khổ ưu. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc. Này các Tỷ-kheo, ví như nước đái quỷ được trộn với nhiều loại thuốc. Rồi có người đi đến, bị bệnh hoàng đản, và có người nói với người đó như sau: “Này bạn, nước đái quỷ này được trộn với nhiều loại thuốc. Nếu bạn muốn, hãy uống.
 
Trong khi uống, bạn không được thích thú về sắc, về hương, về vị. Nhưng sau khi uống, bạn sẽ được an lạc”. Người ấy có thể uống, sau khi suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi uống, người ấy không được thích thú về sắc, về hương, về vị. Nhưng sau khi uống, người ấy được an lạc. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc.
 
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người với lạc, với hỷ, từ bỏ sát sanh và do duyên từ bỏ sát sanh, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ lấy của không cho, và do duyên từ bỏ lấy của không cho, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ các tà hạnh trong các dục, và do duyên từ bỏ các tà hạnh trong các dục, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời vọng ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời vọng ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời hai lưỡi, và do duyên từ bỏ nói lời hai lưỡi, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời ác ngữ, và do duyên từ bỏ nói lời ác ngữ, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, từ bỏ nói lời phù phiếm, và do duyên từ bỏ nói lời phù phiếm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, không có tham ái, và do duyên không có tham ái, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, không có sân tâm và do duyên không có sân tâm, cảm thọ lạc và hỷ; với lạc, với hỷ, có chánh kiến, và do duyên chánh kiến, cảm thọ lạc và hỷ. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc. Này các Tỷ- kheo, ví như lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Rồi có người đi đến bị bệnh kiết lỵ. Và có người nói với người ấy như sau: “Này bạn, đây là lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Nếu bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, bạn sẽ được an lạc”. Người kia có thể uống, sau khi suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi uống, người kia được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, người kia được an lạc. Này các Tỷ- kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc” (4).

---------------------------------------------
1. Kinh Saleyyaka, Trung Bộ.
2. Kinh Vỏ ốc, Tương Ưng Bộ.
3. Tiểu kinh Pháp hành, Trung Bộ.
4. Đại kinh Pháp hành, Trung Bộ.

 
Tác giả bài viết: Liên Minh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Thăm dò ý kiến

Nhờ đâu bạn biết đến website phatgiaoaluoi.com?

Sự giới thiệu của bạn bè

Tình cờ tìm gặp trên google

Tình cờ tìm gặp trên Yahoo search

Tình cờ tìm gặp trên facebook

Công cụ tìm kiếm khác

Giới thiệu

Chào mừng quý vị ghé thăm website http://phatgiaoaluoi.com

   GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN A LƯỚI BAN TRỊ SỰ Văn phòng: Niệm Phật đường Sơn Thủy, thôn Quảng Phú, xã Sơn Thủy, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Điện thoại: 090 501 2992 - Email: phatgiaoaluoi@gmail.com Website: www.phatgiaoaluoi.com LỜI NÓI ĐẦU Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni...

Thống kê

  • Đang truy cập: 36
  • Khách viếng thăm: 35
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 4015
  • Tháng hiện tại: 250663
  • Tổng lượt truy cập: 25965626
Xem bản: Desktop | Mobile

Xin ghi rõ nguồn chính khi trích dẫn thông tin từ website này.

Ngày thành lập : 12-09-2012