Lựa lời mà nói

Đăng lúc: Thứ hai - 16/07/2018 17:33 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
Trong đời sống hàng ngày, lời nói đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nó là cầu nối giữa con người và con người, giúp con người gần gũi và thương quý lẫn nhau, có khả năng lấp dần các khoảng cách giữa xa lạ và thân quen, giữa ngộ nhận và hiểu biết, giữa đối đầu và cảm thông, giữa khổ đau và hạnh phúc.

 
Cuộc sống có trở nên tốt đẹp hay không, con người có được sự hiểu biết, cảm thông và thương quý nhau hay không, một phần là nhờ vào lời nói. Đạo Phật cho rằng lời nói không chỉ là điều kiện giúp cho con người đi đến sự hiểu biết, cảm thông và thương quý lẫn nhau, mà còn là phương tiện giúp con người đạt đến mục tiêu giác ngộ (1). Một trong những cách thức mà Đức Phật đã sử dụng để khai thị con đường hạnh phúc an lạc cho cho mọi người, đó là thuyết giảng chánh pháp và Ngài đã vận dụng lời nói rất thiện xảo và hữu hiệu trong sự nghiệp thuyết pháp độ sinh của mình. Do lời nói đóng vai trò quan trọng như vậy đối với đời sống của con người nên đạo Phật rất chú trọng đến việc phân định rõ về ý nghĩa của lời nói cũng như cách thức tu tập, ứng dụng lời nói.
 
Trước hết, đạo Phật minh định rất rõ về hai loại lời nói hay hai loại khẩu hành. Loại thứ nhất gồm những lời nói sai trái xấu ác, đưa đến hại mình và hại người gọi là tà ngữ (micchà-vàcà). Loại thứ hai bao hàm những lời nói chân chánh hiền thiện, đưa đến lợi mình và lợi người gọi là chánh ngữ (sammà-vàcà). Đức Phật định nghĩa:
 
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà ngữ? Vọng ngữ, nói hai lưỡi, ác khẩu, nói lời phù phiếm; như vậy, này các Tỷ-kheo, là tà ngữ. Và này các Tỷ- kheo, thế nào là chánh ngữ? Viễn ly vọng ngữ, viễn ly nói hai lưỡi, viễn ly ác khẩu, viễn ly phù phiếm ngữ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là chánh ngữ”. (2)
 
Về phương diện tu tập lời nói, Đức Phật đưa ra những lời khuyên minh định rõ ràng việc con người nên từ bỏ tà ngữ và nên thực hành chánh ngữ. Ngài nhắc nhở:“Vị Thánh đệ tử từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi” (3).
 
Trong một văn cảnh khác, Đức Thế Tôn xác nhận lời nói hay khẩu hành có hai loại. Một loại được biết như là tà ngữ, không nên hành trì, vì nếu hành trì thì, theo lời giải thích của Tôn giả Xá-lợi- phất, các bất thiện pháp sẽ tăng trưởng, các thiện pháp sẽ thối giảm. Loại thứ hai được xem là chánh ngữ, nên hành trì, vì nếu chấp trì chánh ngữ thì các bất thiện pháp sẽ thối giảm, các thiện pháp sẽ tăng trưởng. Nói cách khác, Phật khuyên mọi người nên từ bỏ tà ngữ, thực hành chánh ngữ, vì làm như thế thì khổ đau sẽ giảm thiểu và hạnh phúc sẽ tăng trưởng. Sau đây là lời giải thích đầy đủ của Tôn giả Xá-lợi-phất:
 
“Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiệp pháp thối giảm? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì ông biết”. Dầu cho người ấy không biết, người ấy nói: “Tôi biết”; dầu cho người ấy biết, người ấy nói: “Tôi không biết” hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy nói: “Tôi thấy” hay dầu cho người ấy thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”. Như vậy lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy là người nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi dục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại. Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy. Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp tăng trưởng, các thiện pháp thối giảm.
 
Bạch Thế Tôn, khẩu hành gì khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng? Ở đây, bạch Thế Tôn, có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi bị dẫn xuất làm chứng và được hỏi: “Này người kia, hãy nói những gì ông biết”. Nếu biết, người ấy nói: “Tôi biết ”; nếu không biết, người ấy nói: “Tôi không biết” hay nếu không thấy, người ấy nói: “Tôi không thấy”; nếu thấy, người ấy nói: “Tôi thấy”. Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì. Và người ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Và người ấy từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác; người ấy nói những lời nói nhu hòa, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người. Và người ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm; người ấy nói đúng thời, nói những lời chơn thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Khẩu hành như vậy, bạch Thế Tôn, khi hành trì thời các bất thiện pháp thối giảm, các thiện pháp tăng trưởng” (4).
 
Như vậy, đạo Phật xác định rất rõ về công năng và tác dụng quan trọng của lời nói. Lời nói có thể khiến cho con người rơi vào phiền muộn khổ đau, khổ cho mình và khổ cho người, nếu nó được sử dụng sai trái với động cơ xấu ác (tham-sân-si). Trái lại, nó có thể làm cho con người hạnh phúc an lạc, nếu nó được vận dụng đúng đắn với động cơ hiền thiện (không tham-sân-si). Người Phật tử được khuyên nỗ lực từ bỏ tà ngữ, thực hành chánh ngữ, vì đó là điều kiện khiến cho cái xấu ác bị ngăn chặn và tiêu diệt, cái hiền thiện được sinh khởi và tăng trưởng, cũng đồng nghĩa là khổ đau bị ngăn chặn và loại trừ, hạnh phúc được sinh khởi và tăng trưởng. Đây là ý nghĩa căn bản của việc tu tập về lời nói được nhấn mạnh trong đạo Phật, tức là biết giữ gìn lời ăn tiếng nói, tránh nói những điều sai trái xấu ác khiến khổ đau sinh khởi và tăng trưởng, chỉ nói những điều chân chánh hiền thiện khiến an lạc sinh khởi và tăng trưởng.
 
Ở một cấp độ tu tập khác, Đức Phật khuyên mọi người nên có sự phân định rõ ràng về năm loại ngôn ngữ trong khi nói với người khác để bảo đảm lời nói của mình nhất định đưa đến lợi mình và lợi người, không đưa đến hại mình và hại người:
 
“Chư Tỷ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Thầy có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Thầy có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Thầy có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Thầy có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Thầy có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỷ-kheo, khi nói với các người khác, các Thầy có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỷ-kheo, ở tại đây, các Thầy cần phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, như vậy các Thầy cần phải học tập” (5).
 
Ở cấp độ tu tập này thì việc sử dụng lời nói càng trở nên thận trọng và tinh tế hơn. Người Phật tử không những phải sử dụng chánh ngữ mà còn phải tỉnh táo và sáng suốt trong lúc giao tiếp để biết rõ lúc nào mình nên nói hay không nên nói (đúng thời hay phi thời), nên nói những gì hay không nên nói những gì (chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không có lợi ích) và nói như thế nào (với từ tâm hay với sân tâm) để cho người khác có được lợi ích an lạc. Chẳng hạn, một lời nói dù là chân chánh hiền thiện, nhưng nếu nói cho một người không sẵn sàng lắng nghe hoặc nói không đúng lúc đúng chỗ thì lời nói đó không có tác dụng và không mang lại lợi ích cho người nghe. Đáng chú ý rằng lời nói không gì khác là hiện thân của tâm ý hay hệ quả sự vận hành của tâm thức. Do vậy, để hỗ trợ cho việc thực thi lời nói có hiệu quả tốt đẹp, nghĩa là đúng thời, chân thật, nhu nhuyến, có lợi ích và có từ tâm, Đức Phật khuyên chúng ta cần phải biết nuôi dưỡng tâm ý trong sáng, không biến nhiễm, có lòng thương mến đối với người khác, có nội tâm an tịnh, không hận, không sân, tuyệt đối không nói lời xấu ác. Vì nếu một người có tâm ý trong sạch, an tịnh, không cấu uế, không giận dữ bực phiền, có lòng thương quý người khác thì tự nhiên sẽ có lời nói chân chánh, hiền thiện, lợi mình lợi người. Tâm mà trong sáng hiền thiện thì lời nói sẽ trong sạch từ hòa. Kinh Pháp Cú dùng hình ảnh như thế này:
 
Như bông hoa tươi đẹp,
Có sắc lại thêm hương;
Cũng vậy lời khéo nói,
Có làm, có kết quả. (6)
 
Sau cùng, chúng ta xem qua một phương diện khác của sự ứng dụng lời nói vì lợi lạc cho người khác mà chính Đức Phật đã sử dụng để thấy rõ công năng và tác dụng của lời nói cũng như để hiểu rõ cách sử dụng lời nói hết sức thận trọng, tế nhị và có mục đích rõ ràng của bậc Đạo sư trong sứ mạng thuyết pháp độ sinh của Ngài:
 
“Này Vương tử, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai ở đây biết thời giải thích lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lai không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây Như Lai biết thời giải thích lời nói ấy. Vì sao vậy? Này Vương tử, Như Lai có lòng thương tưởng đối với các loài hữu tình” (7).
 
Chúng ta không bàn đến cách Đức Phật, bậc Thầy của chư Thiên và loài người, vận dụng lời nói để làm lợi ích cho loài hữu tình. Về việc này, chúng ta còn phải tiếp tục học tập và chiêm nghiệm lâu dài. Chúng ta chỉ có thể nói rằng ngay cả bậc giác ngộ như Đức Phật cũng tỏ ra hết sức dè dặt và cẩn trọng trong từng lời nói để giúp cho người khác thật sự có được lợi ích an lạc. Ngài là bậc giác ngộ thanh tịnh từ trong ra ngoài mà còn phải thận trọng, cân nhắc, lựa lời mà nói, huống hồ là hạng phàm phu như chúng ta thì cần phải cẩn trọng chừng nào trong từng lời ăn tiếng nói của mình. Chính vì vậy mà trong đời sống hàng ngày, chúng ta cần phải biết lắng nghe và thực tập lời Phật dạy thì mới tránh được các phiền muộn khổ đau, khổ cho mình và khổ cho người, do sự thiếu cân nhắc của chúng ta trong các lời ăn tiếng nói. Chúng ta chưa có đủ đức năng giác ngộ giống như Đức Phật hay các bậc Thánh nhân khác để có thể khéo dùng lời nói của mình làm lợi ích cho người khác trên bước đường tu học hướng đến giác ngộ.

Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, nếu chúng ta biết nỗ lực thực hành những lời dạy căn bản của bậc Giác ngộ liên quan đến lời nói, quyết tâm từ bỏ tà ngữ (từ bỏ nói láo, nói hai lưỡi, lời lời độc ác, nói lời phù phiếm vô ích), nỗ lực thực hành chánh ngữ, (nói chân thật, nói lời đưa đền hòa hợp, nói lời hiền lành, nói lời lợi ích), thì chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ giúp cho chúng ta và nhiều người khác tránh được vô số các phiền toái và khổ não, do thái độ cẩn trọng và sáng suốt của chúng ta trong phương pháp tu tập về lời nói hay trong cách “lựa lời mà nói” của người con Phật biết tu tập và sử dụng lời nói của mình đúng với tinh thần lời Phật dạy.

------------------------------
1. Đại kinh Phương quảng, Trung Bộ.
2. Đại kinh Bốn mươi, Trung Bộ.
3. Đại kinh Đoạn tận ái, Trung Bộ.
4. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì, Trung Bộ.
5. Kinh Ví dụ cái cưa, Trung Bộ.
6. Pháp Cú, kệ số 52.
7. Kinh Vô Úy vương tử, Trung Bộ.

Tác giả bài viết: Nguyên Phương
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Thăm dò ý kiến

Nhờ đâu bạn biết đến website phatgiaoaluoi.com?

Sự giới thiệu của bạn bè

Tình cờ tìm gặp trên google

Tình cờ tìm gặp trên Yahoo search

Tình cờ tìm gặp trên facebook

Công cụ tìm kiếm khác

Giới thiệu

Chào mừng quý vị ghé thăm website http://phatgiaoaluoi.com

   GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN A LƯỚI BAN TRỊ SỰ Văn phòng: Niệm Phật đường Sơn Thủy, thôn Quảng Phú, xã Sơn Thủy, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Điện thoại: 090 501 2992 - Email: phatgiaoaluoi@gmail.com Website: www.phatgiaoaluoi.com LỜI NÓI ĐẦU Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni...

Thống kê

  • Đang truy cập: 76
  • Khách viếng thăm: 74
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 3958
  • Tháng hiện tại: 250606
  • Tổng lượt truy cập: 25965569
Xem bản: Desktop | Mobile

Xin ghi rõ nguồn chính khi trích dẫn thông tin từ website này.

Ngày thành lập : 12-09-2012