Bước đầu học Phật - P2

Bước đầu học Phật - P2
LỊCH-SỬ
 
“Noi công-nghiệp trước, xét sự việc nay, 
đặt-định chương-trình xây-dựng cho mai sau”.


A.- LỊCH-SỬ CHƯ PHẬT
1.- THẤT PHẬT THẾ-TÔN
(7 đức Phật Thế-Tôn)

 
 
Phật-học chia thời-gian làm ba thời-kỳ: quá-khứ Trang-nghiêm-kiếp, Hiện-tại Hiền-kiếp và vị-lai Tinh-tú-kiếp. Trong mỗi thời-kỳ này đều có một nghìn đức Phật ra đời độ sinh. Danh hiệu chư Phật rất nhiều nhưng, trong kinh thường thường nói tới danh-hiệu bảy đức Phật Thế-Tôn (thất Phật Thế-Tôn) tức là chỉ vào ba vị cuối cùng trong kiếp quá-khứ và bốn vị trong kiếp hiện-tại. Bảy vị ấy là:
1.- Đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassin) con vua Bàn-đầu (Bandhumant) và bà Bàn-đầu-bà-đề (Bandhumati) thuở quá-khứ.
2.- Đức Phật Thi-Khí (Sikhin) con vua Minh-tướng (Aruna) và bà Quang-diệu (Pabhàvati), thuở quá-khứ.
3.- Đức Phật Tỳ-Xá-Phù (Vessabhù) con vua Thiện-đăng (Suppatita) và bà Xưng-giới (Yasavati) thuở quá-khứ.
4.- Đức Phật Câu-Lưu-Lôn (Kakusandha) con ông Tự-đắc (Aggidatta) và bà Thiện-chi (Visàkhà) kiếp Hiện-tại.
5.- Đức Phật Câu-Na-Hàm (Konàgamana) con ông Đại-đức (Yannadatta) và bà Thiện-thắng (Uttarà) kiếp Hiện-tại.
6.- Đức Phật Ca-Diếp (Kassapa) con ông Phạm-đức (Brahmadatta) và bà Tài-chủ (Dhanavati) kiếp Hiện-tại.
7.- Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni Giáo-chủ đạo Phật hiện-tại.
Còn vị kế-thừa đức Phật Thích-Ca sau này là đức Phật Di-Lặc.

2.- ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MÂU-NI

Vị Giáo-chủ Phật-giáo hiện-tại là đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni (Sàkya Muni).
Ngài là vị Thái-tử tên là Tất-đạt-Đa (Siddhar-thà), con vua Tịnh-Phạn (Suddhodana) và Hoàng-hậu Ma-gia (Maya) nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) thuộc Trung-Ấn-Độ. Ngài giáng-sinh tại vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini) vào ngày trăng tròn tháng hai Ấn-độ, tức tháng tư âm-lịch Trung-hoa (theo phong tục nước ta làm lễ khánh-đản Ngài vào ngày mồng tám tháng tư âm-lịch).
Ngài thông-minh, đĩnh-ngộ, tài-trí hơn người. Ngài nhìn đời bằng con mắt từ-bi, Ngài muốn phá tan sự bất công, mê-tín… đương thời, đem lại chân giá-trị cho con người, cho chúng-sinh thoát khổ, được vui. Ngài bỏ sự vinh hoa, khoái-lạc ở đời đi xuất-gia tìm đạo năm Ngài 29 tuổi.
Vượt bao chướng-ngại Ngài ngộ đạo năm 35 tuổi.
Sau khi giác-ngộ, Ngài đi khắp nơi thuyết-pháp suốt 45 năm ròng. Vừa năm 80 tuổi Ngài nhập Niết-bàn tại rừng Sa-la, xứ Cưu-thi-la (Kusinagara). Xá-lỵ Ngài được chia cho tám nước xây tháp cúng-dàng.
Đó là đời Ngài. Đời Ngài vì chúng-sinh, phục vụ cho chúng-sinh… đem lại sự an vui chân-thực cho muôn loài, trong muôn thuở.

3.- ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ
A-Di-Đà (Amita) có nghĩa là “Vô-lượng-quang” (sáng láng không lường) “Vô-lượng-thọ” (sống lâu không lường).

Theo kinh Bi-Hoa: Thuở quá-khứ lâu xa, cõi San-đề-lam, có ông vua tên là Vô-Tránh-Niệm. Do ông Bảo-Hải đại-thần khuyến-tiến, nhà vua gặp được đức Phật Bảo-Tạng. Nhà vua thành tâm cúng-dàng, quy-y, thụ-giáo và phát-nguyện độ sinh, nên được đức Phật Bảo-Tạng thụ-ký: sau đây sẽ thành Phật hiệu là A-Di-Đà (Amita) ở nước Cực-lạc phương Tây. Hiện-tại Ngài đang thuyết-pháp tại đó. Và, trong một kiếp khác xa xưa, Ngài là Pháp-Tạng Tỳ-khưu phát ra 48 đại-nguyện độ tận chúng-sinh, nơi đức Thế-Tự-Tại-Vương Phật.

4.- ĐỨC DƯỢC-SƯ LƯU-LY-QUANG NHƯ-LAI
Đức Dược-Sư Lưu-Ly-Quang Như-Lai, tiếng Phạm gọi là Bệ-sát-xã-lũ-rô (Bhaisajyaguruvaidùryap-radhàsa).
Ngài là vị Giáo-chủ nước Tịnh-Lưu-Ly phương Đông. Ngài có mười hai đại-nguyện độ sinh. Ngài có hai vị Bồ-tát phụ-tá là Nhật-Quang biến-chiếu Bồ-tát và Nguyệt-Quang biến-chiếu Bồ-tát.

B.- LỊCH-SỬ BỒ-TÁT
1.- DI-LẶC BỒ-TÁT

Bồ-tát Di-Lặc, gọi theo tiếng Phạm là Mai-đê-lê (Maitrya) dịch nghĩa là “Từ”, là tên họ, nên gọi chung là “Từ-thị”; tên là A-dật-đa (Adjita) dịch nghĩa là Vô-Năng-Thắng. Ngài sinh trong họ Bà-la-môn, thuộc Nam-thiên-trúc (Ấn-độ). Ngài là vị kế-thừa đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni làm Giáo-chủ cõi Sa-bà này trong tương-lai. Hiện-tại Ngài đang thuyết-pháp trên cung trời Đâu-suất.

2.- QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT
Quán-Thế-Âm là dịch nghĩa chữ A-va-lô-ky-tết-va-ra (Avalokitesvara) của chữ Phạm và có nghĩa là vị Bồ-tát quán-sát tiếng kêu cầu của chúng-sinh trong thế-gian, mà độ cho họ được giải-thoát. Quán-Thế-Âm, còn gọi là Quán-Tự-Tại.

Xưa kia Ngài là con trai cả vua Vô-Tránh-Niệm tên là Bất-Thuấn (Huyến). Ngài được thân-thừa, cúng-dàng đức Phật Bảo-Tạng và được thụ-ký: sau này sẽ được hiệu là Quán-Thế-Âm, phụ-tá bên cạnh đức Phật A-Di-Đà ở cõi Cực-Lạc. Và, sau nữa Ngài sẽ thành Phật hiệu là “Phổ-Quang Công-Đức Sơn-Vương Như-Lai” ở cõi “Chúng-bảo sở tập trang-nghiêm”.

Ngài thường thị-hiện nhiều thân để hóa-độ chúng-sinh.

3.- ĐẠI-THẾ-CHÍ BỒ-TÁT
Đại-Thế-Chí là dịch nghĩa chữ Mô-hát-tha-na-pờ-rất-ta (Mohasthanaprâta) của chữ Phạm và, theo kinh Quán-vô-lượng-thọ thời có nghĩa là “dùng ánh sáng trí-tuệ soi khắp hết thảy, khiến chúng-sinh trong 3 đường ác được giải-thoát và được năng-lực vô-thượng”.

Xưa kia Ngài là con trai thứ vua Vô-Tránh-Niệm tên là Ni-ma. Ngài được thân-thừa, cúng-dàng đức Phật Bảo-Tạng và phát-nguyện độ sinh mà được thụ-ký: sau này sẽ được hiệu là Đắc-Đại-Thế (Đại-Thế-Chí), phụ-tá bên cạnh đức Phật A-Di-Đà ở cõi Cực-Lạc. Và, sau nữa Ngài sẽ thành Phật tên hiệu là “Thiện-Trụ Công-Đức Bảo-Vương Như-Lai” ở thế-giới “Đại-thế”.

4.- VĂN-THÙ BỒ-TÁT
Văn-Thù gọi đủ là Văn-Thù-Sư-Lỵ và còn gọi là Mạn-Thù-Thất-Lỵ (Manjusri). Văn-Thù-Sư-Lỵ dịch nghĩa là “Diệu-Đức, Diệu-Âm, Diệu-Cát-Tường”. Xưa kia, Ngài là con thứ ba vua Vô-Tránh-Niệm, tên là Vương-Chúng Thái-tử. Do cúng-dàng đức Phật Bảo-Tạng và phát-nguyện độ sinh Ngài được tên hiệu là Văn-Thù-Sư-Lỵ và được thụ-ký: sau đây sẽ thành Phật ở thế-giới Thanh-tịnh Vô-cấu bảo-chỉ và tên hiệu là Phổ-Hiền Như-Lai.

Ngài là vị Bồ-tát hiểu-thấu Phật-tính, đầy đủ ba đức: Pháp-thân, Bát-nhã, giải-thoát và Ngài đem ba đức vi-diệu ấy giác-ngộ chúng-sinh. Ngài là vị có trí-tuệ nhiệm-mầu, hiện-thân giúp đỡ sự truyền-bá Phật-pháp của đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni.

5.- PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT
Phổ-Hiền là dịch nghĩa chữ Tam-man-đa-bạt-đà-la (Samantabhadra) của tiếng Phạm (Ấn-độ). “Phổ-Hiền” là nói về cái thể-tính rộng khắp. Xưa kia, Ngài là con thứ tư vua Vô-Tránh-Niệm, tên là Năng-Đà-Nô. Do cúng-dàng đức Phật Bảo-Tạng và phát-nguyện độ-sinh, Ngài được thụ-ký: sau đây làm hạnh Bồ-tát sẽ được tên là Kim-Cương trí-tuệ quang-minh công-đức, rồi sau sẽ thành Phật ở thế-giới Bất-Huyến phương Đông và tên hiệu cũng là Phổ-Hiền Như-Lai. Ngài là vị Bồ-tát hóa-thân giúp đỡ sự truyền-bá Phật-pháp của đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni. Ngài có mười đại-nguyện thừa-sự chư Phật, tự-tu và độ-sinh

6.- ĐỊA-TẠNG BỒ-TÁT
Địa-Tạng là dịch nghĩa chữ Khất-soa-để-nghiệt-sa (Ksitigarbha) của tiếng Phạm. “Địa-Tạng” có nghĩa là an-nhẫn bất động như đại-địa, suy nghĩ sâu xa kín-đáo như kho-tàng bí-mật.
Tiền-thân của Ngài theo kinh Địa-Tạng nói thì rất nhiều nhưng, đều do hiếu-hạnh và lòng từ-bi của Ngài mà Ngài phát ra thệ-nguyện rộng lớn: “địa-ngục rỗng không, chúng-sinh độ hết mới thành Phật”.
Trên cung trời Đao-Lỵ đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni phó-chúc cho Ngài cứu-độ chúng-sinh sau khi Ngài nhập Niết-bàn cho đến lúc đức Phật Di-Lặc ra đời.

7.- CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT
Chuẩn-Đề (Candi) có nghĩa là “thanh-tịnh”, là lời tán-thán “tâm-tính thanh-tịnh”. Ngài là vị Pháp-thân Bồ-tát, thường được tôn-xưng là “Thiên-Nhân Trượng-Phu Quán-Âm”, là Thất-Câu-Chi Phật-Mẫu”. Ngài thường thuyết Đà-la-ni cho chúng-sinh tu-tập, cho tâm-tính thanh-tịnh, để đạt tới chỗ Đại-giác.

C.- LỊCH-SỬ THÁNH-TĂNG, TỔ-SƯ

1.- THẬP ĐẠI ĐỆ-TỬ
(10 vị Đại đệ-tử của Phật)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni độ rất nhiều đệ-tử nhưng, có mười vị cao-đệ như sau:
1.- Ngài Xá-Lỵ-Phất (Sariputra): Tàu dịch là Thu-lộ-tử (con bà Thu-lộ. Bà này có con mắt sáng như mắt chim Thu-lộ). Ngài thuộc dòng Bà-la-môn con ông Ưu-bà-đề-xá và bà Xá-lỵ. Ngài là vị Trí-tuệ đệ nhất.
2.- Ngài Mục-Kiền-Liên (Maudgalyàyana): Tàu dịch là Đại-tán-tụng (hay tán-tụng). Ngài thuộc dòng Bà-la-môn, tên cha là Câu-lỵ-ca, tên mẹ là Mục-kiền-liên. Ngài là vị Thần-thông (du-hành tự-tại) đệ nhất.
3.- Ngài Ca-Diếp (Kasyapa): Tàu dịch là Ẩm-Quang (Át ánh sáng). Ngài người nước Ma-kiệt-đà, dòng Bà-la-môn, thân phụ là Ẩm-trạch, thân-mẫu là Hương-chí, Ngài là vị đầu-đà (Dhùta: khất-thực, khổ hạnh) đệ nhất.
4.- Ngài A-Na-Luật (Aniruddha): Tàu dịch là Như-ý vô tham (được như ý, không tham lam). Ngài là em thúc-bá với Phật. Ngài là vị Thiên-nhãn (mắt trông suốt) đệ nhất.
5.- Ngài Tu-Bồ-Đề (Subhùti): Tàu dịch là Thiện-Hiện (sự diệu-thiện hiển-hiện). Ngài con ông Trưởng-giả thành Xá-vệ. Ngài là vị Giải-không (hiểu rõ lẽ chân-không) đệ nhất.
6.- Ngài Phú-Lâu-Na-Di-Đa-La-Ni-Tử (Pùrna-maitràyani-putra): Tàu dịch là Mãn-từ-tử (con bà Mãn-từ: đầy đủ lòng nhân-từ). Ngài người xứ Ba-la-nại, trước tu đạo Tiên, đắc đạo, sau quy-y Phật là vị Thuyết-pháp đệ nhất.
7.- Ngài Ca-Chiên-Diên (Kàtyàyana): Tàu dịch là Tiễn-thế chủng (dòng cắt tóc) dòng Bà-la-môn. Ngài quy Phật, là vị Luận-nghị (bàn bạc) đệ nhất.
8.- Ngài Ưu-Ba-Ly (Upàli): Tàu dịch là Cận-thủ (giữ lấy sự thiết-cận), thuộc giai-cấp hèn-hạ. Ngài quy Phật là vị Trì-luật (giữ luật) đệ nhất.
9.- Ngài La-Hầu-La (Rahula): Tàu dịch là Phú-chướng (bị sự ngăn-che). Ngài là con Phật, đi xuất-gia, là vị Mật-hạnh (giữ hạnh nhiệm-nhặt) đệ nhất.
10.- Ngài A-Nan-Đà (Ananda): Tàu dịch là Khánh-hỷ (vui mừng) là em thúc-bá với Phật. Ngài đi xuất-gia, là vị Đa-văn (nghe nhiều) đệ nhất.

2.- HĂM TÁM VỊ TỔ-SƯ ẤN-ĐỘ
Thiền-tôn Ấn-độ tương-truyền được hai mươi tám vị như sau:
1.- Ngài Ca-Diếp.
2.- Ngài A-Nan-Đà.
3.- Ngài Thương-na-hòa-tu (Sànavàsa): Tàu dịch là Ma-y (áo gai). Ngài là đệ-tử ngài A-Nan. Ngài là người ở nước Mạt-đột-la, họ Tỳ-xá-da, thân-phụ là Lâm-Thắng, thân-mẫu là Kiều-xa-da.
4.- Ngài Ưu-bà-cúc-đa (Upagupta): Tàu dịch là Đại-Hộ (giúp đỡ nhiều): Ngài là đệ-tử ngài Thương-na-hòa-tu. Ngài là người Sất-lỵ-quốc, họ Thủ-đà, thân-phụ là Thiện-ý.
5.- Ngài Đề-đa-ca (Dhrtaka: có nghĩa là mộng lạ): Ngài là đệ-tử ngài Ưu-bà-cúc-đa. Ngài là người ở nước Ma-già-đà, tên là Hương-chúng.
6.- Ngài Di-già-ca: Ngài sinh-trưởng tại miền Trung Ấn-độ. Ngài là đệ-tử ngài Đề-đa-ca.
7.- Ngài Bà-tu-mật (Vasumitra): Tàu dịch là Thế-Hữu (bạn của đời): Ngài là đệ-tử ngài Di-già-ca. Ngài họ Phả-la-đọa, người Bắc-Thiên-trúc.
8.- Ngài Phật-đà-nan-đề: Ngài là đệ-tử ngài Bà-tu-mật. Ngài họ Cồ-Đàm, sinh-trưởng tại nước Ca-ma-la.
(*** thiếu 1 trang, phần 02- 28 Vị Tổ Sư Ấn-Độ từ số …09 cho đến số 16…)
17.- Ngài Tăng-già-nan-đề (Samghanandi): Tàu dịch là Chúng-hà (các sông): Ngài đắc-pháp nơi ngài La-hầu-la-đa. Ngài là vị Hoàng-tử con vua Trang-nghiêm nước Thất-la-phiệt.
18.- Ngài Già-gia-xá-đa: Ngài lĩnh-thụ chính-pháp nơi ngài Tăng-già-nan-đề. Ngài dòng Uất-đầu-lam-phất, sinh-trưởng tại nước Ma-đề, thân-phụ là Thiên-cái, thân-mẫu là Phương-Thánh.
19.- Ngài Cưu-ma-la-đa (Kumàralabdha): Tàu dịch là Hào-đồng (cậu bé hào-hùng): Ngài đắc-pháp nơi ngài Già-gia-xá-đa. Ngài dòng Bà-la-môn, sinh-trưởng tại nước Nguyệt thị.
20.- Ngài Xà-dạ-đa: Ngài đắc-pháp nơi ngài Cưu-ma-la-đa. Ngài sinh-trưởng tại Bắc Ấn-độ.
21.- Ngài Bà-tu-bàn-đầu (Vasubandhu): Tàu dịch là Thế-thân (thân-mật với đời): Ngài họ Tỳ-xá-khư, sinh-trưởng tại thành La-duyệt, con ông Quang-Cái và bà Nghiêm-Nhất.
22.- Ngài Ma-nô-la: Ngài là con vua Thường-tự-tại nước Na-đề, dòng Sát-đế-lỵ, đắc-pháp nơi ngài Bà-tu-bàn-đầu.
23.- Ngài Hạc-lặc-na (Haklena): Ngài đắc-pháp nơi ngài Ma-nô-la. Ngài dòng Bà-la-môn, sinh-trưởng tại nước Nguyệt-thị, thân-phụ là Thiên-thắng, thân-mẫu là Kim-quang.
24.- Ngài Sư-tử tôn-giả: Ngài đắc-pháp nơi ngài Hạc-lặc-na. Ngài dòng Bà-la-môn, sinh-trưởng tại Trung Ấn-độ.
25.- Ngài Bà-xá-tư-đa: Ngài đắc-pháp nơi ngài Sư-tử tôn-giả. Ngài dòng Bà-la-môn, sinh-trưởng tại nước Kế-tân, thân-phụ là Tịnh-Hạnh, thân-mẫu là Thường-an-lạc.
26.- Ngài Bất-như-mật-đa: Ngài đắc-pháp nơi ngài Bà-xá-tư-đa. Ngài dòng Sát-đế-lỵ, con thứ hai của vua Nam-Ấn-độ.
27.- Ngài Bát-nhã-đa-la (Prajnàtàra): Ngài đắc-pháp nơi ngài Bất-như-mật-đa. Ngài sinh-trưởng tại Đông-Ấn-độ.
28.- Ngài Bồ-đề Đạt-ma (Bodhidharma): Tàu dịch là Đạo-pháp. Ngài đắc-pháp nơi ngài Bát-nhã-đa-la. Chính tên ngài là Bồ-đề-đa-la, thuộc dòng Sát-lỵ, con thứ ba vua Hương-chí, Nam-Ấn-độ. Đời Lương-Vũ-Đế (Trung-hoa) ngài đem tâm-pháp truyền sang Trung-hoa, là vị Sơ-tổ Thiền-tôn tại đây.

3.- SÁU VỊ TỔ-SƯ THIỀN-TÔN TRUNG-HOA
Thiền-tôn truyền sang Trung-hoa, sự kế-thừa tâm-pháp có sáu vị như sau:
1.- Ngài Bồ-đề Đạt-ma: Ngài là vị Tổ thứ 28 của Thiền-Tôn Ấn-độ, truyền Thiền-Tôn sang Trung-hoa thời nhà Lương. Cơ-duyên hóa-độ chưa gặp, Ngài tới chùa Thiếu-lâm ngồi quay mặt vào vách chín năm. Sau, Ngài truyền tâm-pháp cho ngài Thần-Quang, đạo-hiệu Tuệ-Khả.

2.- Ngài Tuệ-Khả: Ngài họ Cơ, sinh-trưởng tại đất Vũ-lao, thân-phụ Ngài tên là Tịch. Khi sinh Ngài có điềm sáng lạ, nên thân-phụ Ngài, đặt tên cho Ngài là “Quang”. Lớn lên Ngài đi xuất-gia nơi ngài Bảo-tịnh. Năm 33 tuổi Ngài về Hương-sơn, ngồi yên-lặng tám năm. Sau tới chùa Thiếu-lâm, chặt tay trái cầu pháp nơi ngài Bồ-đề Đạt-ma, Ngài được truyền tâm-pháp. Cuối cùng Ngài truyền pháp cho ngài Tăng-Sán. Năm 107 tuổi ngài viên-tịch.

3.- Ngài Tăng-sán: Ngài người miền Từ-Châu. Khi còn là người Cư-sĩ, Ngài đến quy-y, thụ-giáo nơi ngài Tuệ-Khả. Ngài hành-đạo gặp thời Chu-vũ-đế hủy-diệt Phật-pháp. Ngài hay qua lại núi Tư-không. Sau Ngài truyền-pháp cho ngài Đạo-Tín và ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi (sang Việt-nam). Cuối cùng Ngài tới núi La-phù giáo-hóa chúng-sinh, rồi đứng thẳng, chắp tay mà viên tịch gần bên cây đại-thụ.

4.- Ngài Đạo-Tín: Thân-phụ Ngài thuộc họ Tư-mã, gốc ở Hà-nội, sau dời về Châu-kỳ, thuộc huyện Quảng-tế, mới sinh Ngài. Lúc tuổi nhỏ, Ngài có tính siêu-việt lạ thường, hâm-mộ Không-tôn. Đi xuất-gia Ngài được Ngài Tăng-Sán truyền tâm-pháp cho và từ đó Ngài không ngủ, không đặt lưng xuống chiếu suốt 60 năm. Sau Ngài truyền-pháp cho ngài Hoằng-nhẫn. Đến năm 72 tuổi, Ngài ngồi kết gia-phu viên-tịch.

5.- Ngài Hoằng-Nhẫn: Ngài họ Chu, quán ở Châu-Kỳ, thuộc huyện Hoàng-Mai. Ngài theo hầu ngài Đạo-Tín từ thuở nhỏ. Khi đắc pháp, Ngài về núi Phá-đầu hóa-độ chúng-sinh. Đồ-chúng Ngài có hơn 700 người, có ngài Thần-Tú là người quán-thông nội, ngoại-điển nhưng, không đắc-ngộ. Sau Ngài truyền-pháp cho ngài Huệ-Năng. Năm 74 tuổi Ngài ngồi mà viên-tịch.

6.- Ngài Huệ-Năng: Ngài họ Lư, thân-phụ là Hạnh-Thao, thân-mẫu là Lý-thị, người đất Tân-châu, thuộc miền Lĩnh-nam. Cha mất sớm, lớn lên Ngài đi kiếm củi nuôi mẹ. Tìm đủ phương-tiện để chu cấp cho mẹ, Ngài xin mẹ tới quy-y, thụ-pháp nơi ngài Hoằng-Nhẫn. Tới đây Ngài chuyên giã gạo. Sau được ngài Hoằng-Nhẫn truyền tâm-pháp, qua phương Nam hoằng-dương Phật pháp.

Ngài rất đông đệ-tử, sau có hai vị kế-thừa Ngài là Nam-Nhạc và Thanh-Nguyên. Ngài Nam-Nhạc có ngài Mã-Tổ, ngài Mã-Tổ có ngài Bách-Trượng, ngài Bách-Trượng có ba vị: Hoàng-Nghiệt, Linh-Hựu, Vô-ngôn-thông (sang Việt-nam). Ngài Hoàng-Nghiệt có ngài Nghĩa-Huyền lập phái Lâm-Tế. Ngài Linh-Hựu có ngài Huệ-Tịch lập phái Quy-ngưỡng. Còn Ngài Thanh-Nguyên có ngài Thạch-Đầu. Từ ngài Thạch-đầu trở xuống có ngài Bản-Tịch lập phái Tào-động, ngài Văn-Yển lập phái Vân-Môn và ngài Văn-Ích lập phái Pháp-nhãn. Do năm phái trên, Thiền-tôn truyền bá khắp trong và ngoài nước Trung-hoa.

4.- NGÀI TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI
Ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (Vinitaruci: Trung-hoa dịch là Diệt-Hỷ) là Sơ-tổ Thiền-tôn Việt-nam. Ngài là người Nam-Ấn-độ, sang Tây Ấn-độ khảo-cứu Phật-giáo. Vì cơ-duyên chưa gặp, Ngài qua Trường-an (Trung-hoa) vào năm 574, là lúc Phật-giáo Trung-hoa đang bị Chu-Vũ-Đế phá-hoại. Ngài qua đất Nghiệp (thuộc tỉnh Hồ-nam bây giờ) Ngài gặp Ngài Tăng-Sán ở núi Tư-không và được Ngài truyền tâm-ấn. Sau đó, Ngài đến Quảng-châu trụ tại chùa Chế-chỉ. Năm 580 Ngài sang Việt-nam ở chùa Pháp-vân (tức làng Văn-giáp, huyện Thượng-phúc, tỉnh Hà-đông bây giờ). Sau Ngài truyền tâm-ấn cho Ngài Pháp-Hiền rồi viên-tịch.

5.- NGÀI VÔ-NGÔN-THÔNG
Ngài Vô-Ngôn-Thông là vị đứng đầu phái Thiền-tôn thứ hai truyền vào Việt-nam. Ngài họ Trịnh, sinh-trưởng tại Quảng-châu (Trung-hoa). Ngài xuất-gia tại chùa Song-Lâm đất Vũ-châu (thuộc Chiết-giang bây giờ). Tính Ngài điềm-đạm ít nói nhưng, thông hiểu sự-lý, nên người đời mới gọi Ngài là Vô-ngôn-thông. Ngài đắc-pháp nơi Ngài Bách-Trượng (phái Nam-nhạc Trung-hoa), rồi về trụ-trì chùa An-hòa (Quảng châu). Năm 820 Ngài sang Việt-nam trụ-trì chùa Kiến-sơ, làng Phù-Đổng, tỉnh Bắc-ninh. Sau Ngài truyền-pháp cho ngài Cảm-thành. Năm 826, không bệnh-tật gì Ngài tắm rửa rồi viên-tịch.

6.- NGÀI KHUÔNG-VIỆT THÁI-SƯ
Ngài họ Ngô, pháp-hiệu là Chân-Lưu, quê ở làng Cát-lỵ, trụ-trì chùa Phật-Đà. Ngài thụ-giới nơi ngài Vân-phong Thiền-sư chùa Khai-quốc Ngài quán-thông kinh sách. Năm 40 tuổi vua Đinh-Tiên-Hoàng vời Ngài vào hỏi đạo, Ngài ứng-đối tinh tường, vua rất mến phục phong cho Ngài làm Tăng-Thống. Năm 971 nhà vua lại phong cho Ngài là Khuông-Việt Thái-Sư. Đến đời Lê-đại-hành việc quân-quốc trong, ngoài đều thỉnh-vấn Ngài cả. Sau Ngài cáo về núi Du-hý mở trường dạy học. Học-đồ của Ngài rất đông nhưng, có ngài Đa-Bảo là đắc-truyền tâm-pháp. Năm Ngài 81 tuổi thì viên-tịch.

7.- NGÀI PHÁP-THUẬN THIỀN-SƯ
Ngài dòng họ Đỗ, xuất-gia từ nhỏ nơi ngài Long-thụ Phù-trì thiền-sư. Ngài quán-thông kinh sách, nên triều Tiền-Lê thường mời Ngài vào bàn về các việc chính-trị và ngoại giao. Năm 986, nhà vua yêu cầu Ngài cải-trang làm lái đò, chèo đò cho sứ Tàu là Lý-giác. Ngài ứng đối như lưu, sứ Tàu hết sức kính-phục. Năm 990 Tây lịch không bệnh gì mà tịch, Ngài thọ 76 tuổi.

8.- NGÀI VẠN-HẠNH THIỀN-SƯ
Ngài dòng họ Nguyễn, người làng Cổ-pháp (nay là làng Đình-bảng, phủ Từ-sơn, Bắc-ninh). Tuổi nhỏ Ngài đã thông hiểu hết kinh-sách Tam-giáo: Nho, Đạo, Thích. Ngài xuất gia năm 20 tuổi nơi ngài Định-Tuệ thiền-sư và theo học ngài Thuyền-Ông đạo-giả. Ngài chuyên tập pháp Tổng-trì Tam-ma-địa (Mật-tôn), nói sao đúng thế. Ngài giúp nhiều việc lợi-ích trong các triều đương thời. Năm 1018 Tây-lịch Ngài viên-tịch.

9.- NGÀI THẢO-ĐƯỜNG
Năm 1069 vua Lý-Thánh-Tôn đi đánh Chiêm-thành đem nhiều tù-binh về nước, trong số đó bắt lầm một vị Thiền-sư tên là Thảo-Đường.

Ngài Thảo-Đường là đệ-tử của ngài Tuyết-Đậu Minh-Giác, thuộc hạt Minh-châu nước Trung-Hoa. Vua Lý-Thánh-Tôn phong Ngài là Quốc-sư và thỉnh Ngài khai-giảng tại chùa Khai-quốc trong thành Thăng-long, đệ-tử tới học đạo rất đông. Sau Ngài truyền tâm-pháp cho vua Lý-Thánh-Tôn. Thế là, Ngài là vị đứng đầu phái Thiền-tôn thứ ba tại Việt-Nam.

10.- TRÚC-LÂM TAM TỔ
(3 vị Tổ phái Trúc-Lâm)
Phật-giáo đời Trần đặc-biệt thành-lập thêm một phái tại Yên-tử-sơn, có ba vị giữ cương-lĩnh truyền-thừa chính-pháp của Phật, mà hậu-học thường gọi là “Trúc-Lâm Tam Tổ” (3 vị Tổ phái Trúc-Lâm: Trúc-Lâm là tôn-hiệu của vua Trần-Nhân-Tôn).

1.- Vua TRẦN-NHÂN-TÔN: Ngài là Thái-tử Khâm, theo mệnh vua cha lên ngôi năm 1278 Tây-lịch, lấy hiệu là Nhân-Tôn. Năm 1293 Ngài truyền ngôi cho con là Anh-Tôn rồi vào núi Yên-tử tu, lấy hiệu là “Hương-Vân Đại-đầu-đà”. Sau Ngài truyền pháp cho ngài Pháp-Loa, rồi Ngài ngồi chắp tay mà hóa. Năm ấy Ngài 51 tuổi (năm 1308 Tây-lịch). Sau khi viên-tịch vua Anh-Tôn dâng tôn-hiệu là “Đại-Thánh Trần-Triều Trúc-Lâm Đầu-Đà Tĩnh Tuệ Giác-hoàng Điều-Ngự Tổ-Phật”.

2.- PHÁP-LOA TÔN-SƯ: Ngài họ Đồng, tên là Kiên-Cương, người làng Cửu-la, phủ Nam-sách (nay là làng Tiền-trung, tổng Vũ-la, Hải-dương). Năm 21 tuổi Ngài đi xuất-gia theo Ngài Điều-Ngự (Vua Trần-Nhân-Tôn). Ngài tinh-thông kinh-điển. Ngài Điều-Ngự truyền giới-pháp cho Ngài và đặt hiệu là Pháp-Loa. Sau Ngài truyền-pháp cho Ngài Huyền-Quang. Năm 47 tuổi Ngài dặn-dò đệ-tử rồi viên-tịch.

3.- HUYỀN-QUANG TÔN-SƯ: Ngài họ Lý, người làng Vạn-tải (thuộc tỉnh Bắc-giang bây giờ). Ngài bẩm-tính thông-minh, hai mươi tuổi đỗ Trạng-Nguyên. Ngài chán thế-tình, không ra làm quan, đi xuất-gia, thụ-giáo nơi Ngài Pháp-Loa. Sau Ngài được Ngài Pháp-Loa truyền tâm-ấn. Ngoài 60 tuổi Ngài viên-tịch.

11.- NGÀI NGUYÊN-THIỀU
Ngài Nguyên-Thiều là vị Tổ truyền phái Lâm-Tế đầu tiên tại Trung-Việt vào khoảng năm 1665 Tây-lịch. Ngài dòng họ Tạ, quê ở Trình-hương, Triều-châu Quảng-đông, Trung-hoa. Ngài xuất-gia năm 19 tuổi tại chùa Báo-Tư và thụ-giới nơi Ngài Bổn-Khao Khoán-Viên Hòa-thượng. Ngài lập chùa Thập-Tháp Di-Đà ở phủ Quy-ninh (Bình-định), mở trường dạy học. Sau Ngài ra lập chùa Hà-trung, (Thuận-hóa) rồi lên Xuân-kinh (Huế) lập chùa Quốc-Ân và dựng tháp Phổ-Đồng. Ngài mở đàn giới tại chùa Linh-Mụ.

Khi về già, một hôm Ngài gọi môn-đồ lại dặn dò các việc, nói bài kệ, rồi viên-tịch.

12.- NGÀI LIỄU-QUÁN
Ngài Liễu-Quán là người có công lớn trong việc khai-hóa Phật-pháp thuộc phái Lâm-Tế tại Trung-Việt. Ngài dòng họ Lê, húy Thiệt-Diệu, làng Bạch-Mã, huyện Đồng-xuân, tỉnh Phú-Yên. Ngài thụ-giáo với Ngài Tế-Viên Hòa-thượng chùa Hội-Tôn từ năm 6 tuổi. Sau Ngài ra học ngài Giác-Phong chùa Báo-Quốc, Thuận-Hóa. Ngài thụ Sa-Di nơi ngài Thạch-Liêm, thụ Tỳ-Khưu nơi ngài Từ-Lâm. Ngài đắc-ngộ nơi ngài Tử-Dung. Ngài truyền đạo hai, ba nơi và dự nhiều giới đàn. Cuối năm Nhâm-Tuất (1742), ngài tự cầm bút viết bài kệ từ-biệt đồ-đệ, rồi viên-tịch.

D.- LỊCH-SỬ PHẬT-GIÁO

1.- PHẬT-GIÁO ẤN-ĐỘ

Phật-giáo Ấn-Độ do đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni sáng-lập và truyền xuống được 28 vị Tổ-Sư.
Sau khi đức Phật nhập Niết-Bàn đặc-biệt có bốn lần kết-tập Tam-Tạng:
-Lần thứ nhứt, sau Phật nhập-diệt ba tháng, kết-tập tại hang Tất-ba-la, ngoại thành Vương-xá.
- Lần thứ hai, sau Phật nhập-diệt chừng 100 năm, kết-tập tại vườn Ba-lỵ-ca thành Tỳ-xá-ly.
- Lần thứ ba, sau Phật nhập-diệt trên 200 năm, kết-tập tại thành Ba-tra-lỵ-Phất.
- Lần thứ tư, sau Phật nhập-diệt trên 400 năm, kết-tập tại thành Ca-thấp-di-la.
Nhờ có những lần kết-tập trên, Phật-giáo Ấn-độ phát-triển mạnh tại trong nước và truyền-bá ra ngoài nước. Trong thời-kỳ Phật-giáo tiến-triển, Bà-la-môn-giáo bị lu mờ; mãi đến thế-kỷ thứ tư Tây-lịch Tôn-giáo ấy mới tạm phục-hưng. Nhưng, đến thế-kỷ thứ 8 Tây-lịch nhờ có ông Thương-yết-la-a-sà-lê (Sànkar-àcàrya) khéo soạn-thích kinh sách Bà-la-môn-giáo lại mà Tôn-giáo ấy được phục-hưng thực sự. Do đó, Phật-giáo suy dần. Đến thế-kỷ thứ 12, Phật-giáo bị Hồi-giáo phá-hoại hoàn-toàn. Sang thế-kỷ 19 Tây-lịch, Phật-giáo tại đây mới phục-hồi, thành-lập Hội Ma-ha Bồ-Đề, hoạt-động khắp nơi. Hiện nay Phật-giáo Ấn-độ đã tiến-triển khả-quan.

2.- PHẬT-GIÁO TRUNG-HOA
Ảnh-hưởng của đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni tại Trung-Hoa đã có ngay trong thời đức Khổng-Tử. Nhưng, đến Tây-lịch 67, tức đời vua Minh-Đế nhà Đông-Hán, ngài Ma-Đằng và ngài Trúc-Pháp-Lan (Ấn-độ) chính-thức đem Phật-pháp truyền-bá vào Trung-Hoa. Từ đó sự tiến-triển mỗi ngày mỗi tăng, có nhiều vị Chân-tăng phiên-dịch Tam-tạng bằng Phạm-văn ra Hán-văn. Đời Lương-Vũ-Đế lại có ngài Bồ-Đề Đạt-Ma sang truyền-bá Thiền-tôn, sau thành-lập ra năm phái, lan rộng khắp trong nước và truyền cả sang các nước lân-cận.

Trong sự phát-triển mạnh-mẽ của Phật-giáo, các đạo khác như Khổng, Lão không khỏi không có sự hiềm-khích. Do đó, Phật-giáo bị Ngụy-Vũ-Đế, Chu-Vũ-Đế, Đường-Vũ-Tôn và Chu-Thế-Tôn phá-hủy Phật-giáo đến cực-độ, có khi tưởng là tuyệt-diệt.

Trải qua những tai-nạn trên Phật-giáo tạm phục hưng, sau lại tiếp-diễn ảnh-hưởng Tây-phương và chiến-tranh, Phật-giáo tại đây không tiến hơn được, dần dần suy yếu. Từ năm 1911 làn sóng cách-mệnh dân-quốc nổi lên, các ngài Đế-Nhàn, Thái-Hư v.v… đứng lên chấn-hưng Phật-giáo, coi đã có vẻ khả-quan. Nhưng, vì cuộc nội-chiến, tới nay Phật giáo hình như biến-sắc và kém phát-triển.

3.- PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM
Việt-Nam có ảnh-hưởng Phật-giáo kể từ cuối thế-kỷ thứ hai Tây-lịch. Nhưng, đến năm 580 Tây-lịch, ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (Vinitaruci) chính-thức đem Thiền-tôn truyền vào Việt-Nam. Năm 820 Tây-lịch ngài Vô-Ngôn-Thông lại đem Thiền-tôn truyền vào. Năm 1069 Tây-lịch Ngài Thảo-Đường cũng truyền phái Thiền-tôn vào. Ba phái trên đây đều phát-triển sâu rộng giáo-lý Phật-giáo trong dân-chúng Việt-Nam. Kể từ đời Đinh (968-980), Lê (980-1009) Phật-giáo đã có hệ thống tổ-chức hẳn-hoi và đã có nhiều vị Tăng-tài như Khuông-Việt Thái-Sư. Pháp-Thuận thiền-sư v.v…mở rộng đạo-giáo, giúp nhiều việc lợi-ích cho quốc-dân.

Sang đời Lý (1010-1225) Phật-giáo cực-thịnh, có các vị Tăng-tài như ngài Vạn-Hạnh Thiền-Sư v.v…Đến đời Trần (1225-1400) Phật-giáo vẫn thịnh. Trong đời này có vua Trần-Nhân-Tôn đi tu tại Yên-tử-sơn thành phái Trúc-Lâm, có ngài Pháp-Loa và Huyền-Quang thừa-kế.

Từ nhà Hồ (1400…) trở đi Phật-giáo thường bị Khổng-giáo chen lấn và gặp nhiều sự chính-biến, nội-chiến trong nước, nên không thể tiến mạnh được, mặc dầu cũng có nhiều vị Tăng tài-đức. Trong thời Nam-Bắc phân-tranh (1528-1802) tại Bắc có thêm phái Tào-động tại chùa Hòa-giai, phái Liên-Tôn tại chùa Liên-Phái Hà-nội; tại Trung có phái Nguyên-Thiều và sau có phái Liễu-Quán thừa-kế.

Thời Nguyễn (1802…) trở đi Phật-giáo không có chi đặc-sắc và thuần-túy, lại thêm ảnh-hưởng sự độ-hộ của Pháp, không tiến hơn được. Nhưng, năm 1931 có Hội Nam-kỳ nghiên-cứu Phật-học, Hội Lưỡng-xuyên Phật-học, năm 1932 có An-nam Phật-học-hội, năm 1934 có Bắc-kỳ Phật-giáo-hội của Nam, Trung, Bắc ra đời, coi cũng có phần chấn-hưng.

Tiếp đến thế-chiến thứ hai, Phật-giáo ít tiến. Rồi từ 1945 trở đi, lâm vào cuộc chiến-tranh, Phật-giáo không tiến được. Từ năm 1950 Phật-giáo Bắc, Trung, Nam bắt đầu phục-hoạt. Năm 1951 thành-lập Tổng-Hội Phật-Giáo Việt-Nam, tại Huế. Năm 1952 thành-lập Giáo-Hội Tăng-già toàn quốc tại Hà-Nội. Từ đấy tới nay kể cũng có phần hoạt-động nhưng, vẫn không tiến mạnh được, vì có nhiều trở-ngại.

4.- PHẬT-GIÁO THẾ-GIỚI
Từ sau khi kết-thúc hội-nghị kết-tập Tam-tạng lần thứ ba, Phật-giáo không những bành-trướng trong Ấn-Độ mà còn lan rộng ra khắp các nước. Tới nay khắp 5 châu đều có hình bóng Phật-giáo, như: Ấn-độ, Népal, Tích-lan, Hồi-quốc, A-phú-hãn, Tây-tạng, Mông-cổ, Assam, Bhutan, Sikkhim, Mãn-châu, Trung-Hoa, Triều-tiên, Nhật-Bản, Việt-Nam, Miến-Điện, Thái-Lan, Ai-lao, Cao-Miên, Mã-lai, Tân-gia-ba, Phi-luật-tân, Nam-dương, Phi-châu, Úc-châu, Mỹ-châu, Anh, Pháp, Đức, Ý, Phần-lan, Đan-mạch, Bỉ, Áo, Thụy-điển, Nga, Hung-gia-lợi, Tiệp-khắc, Hạ uy-di v.v…

Đặc-biệt ngày 6 tháng 6 năm 1950 bản Hiến-chương của Phật-giáo thế-giới được công-bố trong một Hội-nghị Phật-giáo quốc-tế họp tại Tích-Lan. Thế là, Phật-giáo thế-giới thành-hình từ-đấy; lá cờ 5 màu tượng-trưng cho hào-quang của Phật tung bay khắp nơi; trên 600 triệu tín-đồ Phật-giáo đang tập-hợp dưới cờ để truyền-bá chính-pháp của Ngài. Và, tới nay, 5 lần hội-nghị tại: Tích-Lan, Nhật-Bản, Miến điện, Népal và Thái-Lan hiện nay (1958) đã tượng-trưng cho tinh-thần đoàn-kết và sự hoạt-động không ngừng của nó.
 

PHẦN 1PHẦN 2PHẦN 3

 

Tác giả bài viết: HT. Thích Tâm Châu

Nguồn tin: www.quangduc.com