Hoà thượng Tánh Hoạt Huệ Cảnh (1798 – 1869) chùa Tường Vân – Huế

Đăng lúc: Chủ nhật - 31/08/2014 23:47 - Người đăng bài viết: Ban Biên Tập
Tánh tình Ngài "điềm đạm cao nhã, khéo tự hộ trì. Nhiều người cầu đạo cần khổ đến thưa hỏi, Ngài liền chỉ dạy cho họ, bằng cách ''tức thì tạ khách mời ra'' mà thôi. Ngài thường ngồi như cây khô, tro lạnh; lặng lẽ không nói, để cho những ai tới tham thỉnh có thể có cơ duyên thông suốt được lẽ huyền vi, bằng cách Ngài chỉ dạy gián tiếp như vậỵ"

 
Hoà thượng người họ Lê, nguyên quán La Chử, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ngài sinh năm Mậu Ngọ (1798). Đồng chơn nhập đạo, thế độ tại chùa Hàm Long Thiên Thọ với Hoà thượng Đạo Minh Phổ Tịnh. Hoà thượng được Pháp huý là Tánh Hoạt. Nguyên đọc là Tánh Khoát, nhưng kỵ huý tên của Đại Việt Quốc vương Nguyễn Phúc Khoát, nên viết thêm bộ chấm thuỷ bên chữ Khoát và đọc là Hoạt (1), tự là Đức Giai. Năm Gia Long thứ 15 (1816), Hoà thượng Phổ Tịnh viên tịch. Lúc đó Ngài mới 18 tuổi, phải theo chúng tu học ở chùa Báo Quốc. Đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Ngài đến cầu Pháp với Hoà thượng Tế Chánh Bổn Giác, Tăng Cang chùa Thiên Mụ. Ngài được Hoà thượng ban Kệ phú Pháp:

是 法 本 來 如 是 法
無 名 展 轉 強 安 名
汝 今 了 性 無 言 說
始 覺 如 玆 慧 鏡 明。

Phiên âm:                    
                                      
Thị pháp bổn lại như thị pháp,
Vô danh triển chuyển cưỡng an danh.
Nhữ kim liễu tánh vô ngôn thuyết?
Thí giác như tư huệ cảnh minh.

Nguyễn Lê Châu dịch:   

Pháp ấy xưa nay như pháp ấy,
Không tên triển chuyển gượng nêu tên.
Nay ông rõ tánh không ăn nói,
Gương tuệ như vầy mới biết nên.

Tánh tình Ngài "điềm đạm cao nhã, khéo tự hộ trì. Nhiều người cầu đạo cần khổ đến thưa hỏi, Ngài liền chỉ dạy cho họ, bằng cách ''tức thì tạ khách mời ra'' mà thôi. Ngài thường ngồi như cây khô, tro lạnh; lặng lẽ không nói, để cho những ai tới tham thỉnh có thể có cơ duyên thông suốt được lẽ huyền vi, bằng cách Ngài chỉ dạy gián tiếp như vậỵ"

Khi lãnh Kệ phú Pháp, Ngài lại được Pháp danh là Liễu Tánh, tự Huệ Cảnh; thuộc dòng Kệ của Tổ Vạn Uỷ Thời Phong, thế thứ 37 của dòng Kệ "Thiệt Tế Liễu Đạt Ngộ Chơn Không" này.
Ngài có một người bạn rất tâm đắc là Tùng Thiện Quận Vương, con trai thứ 10 của vua Minh Mạng. Năm Quý Sửu (1853) Vương bị bịnh, Ngài cho thị giả đến thăm, Vương viết một bài thơ gởi lên dâng Thiền sư. Ngài liền phúc đáp rằng: "Ngài bị bịnh. Lão Tăng cũng bị tật. Tật bịnh không haị Bốn tướng làm một."

Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), Ngài được Tống thị cầu thỉnh về làm toạ chủ chùa Trường Phước. Năm Thiệu Trị thứ ba (1843), Ngài được vua Thiệu Trị cử làm Trú trì quốc tự Thánh Duyên. Đến năm Tự Đức thứ ba (1850), Ngài được 52 tuổi đời, nhưng đã có vẻ già, nên vua cho về nghỉ. Đại sư về lập am cỏ Tường Vân ở phía trái núi Dẫn Khiêm. Đạo phong của Ngài cao vòi vọi, nên cả Tùng Thiện Quận Vương lẫn Tuy Lý Quận Vương là hai đại thi hào đời Tự Đức đều mến mộ.

Đệ tử xuất gia được Ngài thế độ có đến 14 vị thế thứ đứng hàng chữ "Hải" bởi vì Ngài vẫn theo dòng Kệ Liễu Quán mà Bổn sư là Hoà thượng Đạo Minh Phổ Tịnh đã ban cho, chứ không theo Pháp huý của y chỉ sư là Tế Chánh Bổn Giác đã trao Kệ phú Pháp. Đệ tử được Đại sư truyền y bát và phó Kệ là Đại sư Hải Toàn Linh Cơ. Kệ của Ngài trao cho đệ tử như sau:

靈 機 妙 覺 在 心 王
水 海 全 清 見 月 彰
一 切 眾 生 皆 佛 性
因 由 不 悟 洛 邊 方

Phiên âm:                
                                           
Linh cơ diệu giác tại tâm vương,
Thuỷ hải toàn thanh kiến nguyệt chương.
Nhất thiết chúng sanh giai Phật tánh,
Nhân do bất ngộ lạc biên phương.

Nguyễn Lê Châu dịch:   

Thiêng liêng then chốt tại Vua Tâm,
Biển lớn mà trong rõ nguyệt rằm.
Hết thảy chúng sinh đều tánh Phật,
Chỉ vì chẳng ngộ, lệch phương tầm.

Ngày 13 tháng 4 năm Tự Đức thứ 19 (1869), buổi sáng Ngài vẫn thượng đường dạy bảo môn đồ và chỉ định đệ tử xuất sắc Hải Toàn Linh Cơ kế thế làm toạ chủ Tường Vân thảo am. Nhưng, đến giờ Ngọ hôm đó, Ngài viên tịch. Tháp Ngài được môn đồ xây phía trái của am. Về sau, Hoà thượng Hải Toàn Linh Cơ đã đem thảo am của Bổn sư về hợp với am cỏ của Hoà thượng Tánh Huệ Nhất Chơn, Pháp lữ của Bổn sư để dựng nên chùa Tường Vân hôm naỵ Tên chùa là tên thảo am của Ngài Tánh Hoạt Huệ Cảnh, đất là đất thảo am của Ngài Tánh Huệ Nhất Chơn. Chỗ thảo am Tường Vân cũ được Hoà thượng Hải Toàn Linh Cơ nhường lại cho Tùng Thiện Quận Vương làm chỗ dưỡng già. Bốn năm sau (1870) Tùng Thiện Vương cũng từ trần. Cho nên hiện nay, tháp mộ Ngài Huệ Cảnh lại ở gần lăng mộ của Tùng Thiện Vương.

Ngoài 14 vị đệ tử đắc Pháp, thì còn khoảng 40 vị được Ngài thế độ, cho Pháp danh, Pháp tự. Trong 14 vị đệ tử đắc Pháp, chúng tôi chỉ nói đến 3 vị, mà vị thượng thủ là Hoà thượng Hải Toàn Linh Cơ về sau có được 12 đệ tử, mà Hoà thượng Thanh Thái Phước Chỉ là thượng túc.
 

(1)        Nguyễn Lê Châu, Mối giao tình giữa Thiền sư Huệ Cảnh (1798-1866) với Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1870). Tập Văn Phật Đản, PL 2538. Số 29 tr. 56-59, chú thích ở tr. 69. Ban VHTW G.H.P.G.V.N xb, 1994.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Thăm dò ý kiến

Nhờ đâu bạn biết đến website phatgiaoaluoi.com?

Sự giới thiệu của bạn bè

Tình cờ tìm gặp trên google

Tình cờ tìm gặp trên Yahoo search

Tình cờ tìm gặp trên facebook

Công cụ tìm kiếm khác

Giới thiệu

Chào mừng quý vị ghé thăm website http://phatgiaoaluoi.com

   GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN A LƯỚI BAN TRỊ SỰ Văn phòng: Niệm Phật đường Sơn Thủy, thôn Quảng Phú, xã Sơn Thủy, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Điện thoại: 090 501 2992 - Email: phatgiaoaluoi@gmail.com Website: www.phatgiaoaluoi.com LỜI NÓI ĐẦU Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni...

Thống kê

  • Đang truy cập: 52
  • Hôm nay: 3513
  • Tháng hiện tại: 337034
  • Tổng lượt truy cập: 30784248
Xem bản: Desktop | Mobile

Xin ghi rõ nguồn chính khi trích dẫn thông tin từ website này.

Ngày thành lập : 12-09-2012