Suốt 27 thế kỷ qua, với sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Trung Hoa, trong đó có Phật giáo, tín ngưỡng về vị Bồ-tát này được làm cho phong phú thêm trên nền tảng bản địa, nhân dân tôn thờ Ngài như một vị bảo hộ toàn năng nhưng không phải vì thế mà Ngài xa xôi như một vị thượng đế nào đó mà lại rất gần gũi với con người trong mọi hoàn cảnh, với tất cả chúng sinh không phân biệt xuất thân, thành phần xã hội. Ngài được dân chúng gọi một cách thân thiết là “Đức Phật Bà”, hồng danh của Ngài trở nên thường trực trong lời khấn cầu của mọi người mỗi khi gặp sự nguy khốn hay trong các khóa lễ cầu nguyện thông thường.
Có thể nói, ở nước ta hiện nay, Đức Quán Thế Âm là vị Bồ-tát được thờ phượng phổ biến nhất, hình tượng của Ngài hiện diện tất cả mọi nơi, không chỉ trong các chùa chiền, mà thường được người dân thờ tại tư gia, tôn tượng của Ngài được xây dựng lộ thiên tại các nơi công cộng thường xảy ra tai nạn, hiểm nguy, thậm chí hiện diện cả trên các phương tiện giao thông của người dân, v.v…
Hình tượng của Ngài cũng đã đi vào nghệ thuật điêu khắc, là suối nguồn sáng tạo để lại nhiều tác phẩm bất hủ mà điển hình như tượng Phật Bà Nghìn Tay Nghìn Mắt ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh). Hình tượng đó sẽ được tái hiện trong lễ đúc tượng tại chùa Diên Phúc của chúng ta hôm nay.
Hạnh nguyện Đại bi cứu khổ chúng sinh của Ngài cũng đã đi vào văn học, sân khấu truyền thống, trở thành những hình tượng nghệ thuật, những giá trị sống: Từ bi và Nhẫn nhục được dân gian ứng dụng và lấy làm lề lối xứng xử tốt đẹp bao đời, trở thành những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.
Hơn thế nữa, hành trạng của Ngài cũng đã đi vào đời sống tín ngưỡng sinh động của dân chúng, “Phật Bà Quan Âm” không chỉ là đối tượng chiêm bái, cầu nguyện thông thường, mà trở thành nội dung của nhiều lễ hội mang tầm ảnh hưởng rất lớn trên cả nước, như lễ hội chùa Hương (Hà Nội), lễ hội Quán Thế Âm ở Non Nước (Đà Nẵng)…
Có thể nói rằng, Đức Quán Thế Âm là vị Bồ-tát được dân chúng tín ngưỡng nhất và được thờ phượng phổ biến nhất ở nước ta hiện nay. Hình tượng của Ngài gần như là đại diện cho đạo Phật Việt Nam, vô cùng thiêng liêng và ứng nghiệm nhưng đồng thời cũng rất gần gũi với con người trong mọi hoàn cảnh của đời sống thường ngày.
***
Nói đến đạo Phật, thông thường người ta nghĩ ngay đó là đạo của Từ bi cứu khổ. Với ý nghĩa đó, Đức Quán Thế Âm là hình tượng đại biểu nhất cho đạo Phật theo quan niệm của dân gian.
Hình ảnh Phật giáo ăn sâu trong tiềm thức của nhân dân, đi vào văn hóa nghệ thuật và hình thành nên những hình tượng, tác phẩm nghệ thuật độc đáo và bất hủ, đi vào đời sống dân gian qua nghệ thuật sân khấu và các áng thi ca đầy diễm lệ. Ngài là vị Bồ-tát, là “Phật Bà”, “Mẹ hiền Quan Âm”, là bà mẹ trong tất cả bà mẹ luôn sẵn sàng cứu khổ phò nguy cho dân chúng, cho xứ sở trong những hoàn cảnh đặc biệt và là vị bảo hộ toàn năng trong đời sống thường ngày. Đó là kinh nghiệm tâm linh, là ứng xử văn hóa được đúc kết qua một quá trình lịch sử lâu dài, là một trong những biểu hiện của sự gắn bó mật thiết giữa Phật giáo và dân tộc, biểu hiện cho việc giáo lý đạo Phật không hề phủ nhận nền văn hóa bản địa, mà khiêm tốn khép mình, góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa dân tộc.
Đức Quán Thế Âm trở nên thân thiết trong đời sống của người dân Việt đến mức trong sâu thẳm trái tim của mỗi người đều có hình ảnh về vị Bồ-tát luôn đầy lòng bi mẫn này. Ngài là một đối tượng tín ngưỡng thiêng liêng nhưng đồng thời là một người mẹ thân thương luôn là chỗ dựa cho con cái trên con đường đời lắm thác ghềnh, đầy chông gai.
Hình tượng Bồ-tát Quán Thế Âm qua các tôn tượng độc đáo như Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn ở chùa Bút Tháp cũng như nhiều chùa khác, như tượng Đức Quán Thế Âm tọa sơn ở Hương Tích, v.v… đã trở thành di sản văn hóa vật thể quý giá của đất nước.
Tư tưởng Phật giáo Đại thừa được thể hiện qua hành trạng của Bồ-tát Quán Thế Âm và tín ngưỡng liên quan đến Ngài đã hình thành nên các lễ hội thiêng liêng, đi vào văn học, nghệ thuật sân khấu, đạo đức lối sống… và góp phần quan trọng hình thành nên giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc, có sức sống mãnh liệt được thử thách qua thời gian và các hoàn cảnh khắc nghiệt khác – góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc.
----------------------------------------
1 Theo Phật Quang Đại từ điển, sở dĩ gọi là Quan Âm vì có nguyên nhân do kỵ huý chữ “Thế” ở đời Đường ở Trung Quốc, nên sách vở thường viết lược đi, từ đó cách gọi dân gian phổ biến là “Quan Âm”. Danh xưng Ngài còn được dịch là Quan Thế Âm Bồ-tát, Quán Tự Tại Bồ-tát, Quan Thế Tự Tại Bồ-tát, Quan Thế Âm Tự Tại Bồ-tát, Hiện Âm Thanh Bồ-tát, Cứu Thế Bồ-tát, Quan Âm Đại Sĩ…
Phật giáo A Lưới


Ý kiến bạn đọc