Thực hiện an cư cấm túc, không ra khỏi trụ xứ, ngày đêm nghiêm mật sáu thời công phu thiền định là điều cần làm. Một năm chỉ có ba tháng an cư, Đức Phật là bậc đã giác ngộ mà còn không tiếp khách, tinh chuyên tu tập, phải chăng đây là điều mà hàng hậu học phước mỏng nghiệp dày như chúng ta cần suy ngẫm?
Ở đời, siêng năng là một trong những đức tính được xem là nền tảng của mọi thành công. “Cần cù bù khả năng” hay “siêng nhặt chặt bị” là những kinh nghiệm quý báu về tinh tấn.
Người sống có đạo đức biết ‘tri hành hiệp nhất’, lời nói đi đôi với hành động, đặc biệt là những người có địa vị và chức tước. Chức tước và địa vị càng cao thì phải sống cho trung thực và đạo đức chừng nấy. Vì nếu sống không trung thực, ngay thẳng thì một khi bị phát hiện, phơi bày, tất cả những công phu bồi đắp địa vị của mình suốt cuộc đời sẽ tan ra mây khói. Còn tệ hại hơn, không những mình đã chìm xuống hố sâu mà, đôi khi, cả một hệ thống lệ thuộc vào mình cũng tan hoang, hỗn loạn. Cho nên, sự quan trọng của một người lãnh đạo biết dừng lại đúng lúc, biết khi nào phải từ bỏ chức tước và quyền lợi nếu thấy mình không còn xứng đáng.
Thân cận thiện sĩ tức là gần gũi chúng Tăng, nhưng hơn hết là gần gũi với những bậc có nhân cách cao thượng. Làm thế nào để nhận biết nhân cách cao thượng? Đó “là người không sống theo khuôn khổ phàm phu, không vướng vào Nhị thừa, tâm thường trong sáng, tán dương phạm hạnh, không làm cho người sống không giới luật”.
Bất nhất bất dị nghĩa là không phải một mà cũng chẳng phải khác. Điểm nầy hơi khó. Vì lẽ ít có loại triết học nào giống như triết học của Trung Quán. Đa phần các học thuyết khác đều dựa vào một đấng thần linh để làm chủ tể sinh ra vạn vật và có mọi quyền năng bắt buộc loài người phải tuân theo; nhưng ở giáo lý của Đức Phật không có điều đó. Có nghĩa là không ai sinh ra loài người cả.
Tâm ác nếu có, chúng ta phải cắt bỏ, chưa có thì đừng tập. Một là lòng tham. Phật dạy cắt bỏ lòng tham, không phải cắt bỏ tài sản. Nhiều người tu hành bỏ tài sản, bỏ công ăn việc làm là sai lầm.
Dù xuất gia tu tập theo bất cứ truyền thống, hệ phái, tông phái nào và dù ở bất cứ vị trí nào trong Giáo hội hay xã hội thì mục tiêu phải đạt được là thành tựu Giới học, Định học và Tuệ học. Giới Định Tuệ là cốt lõi của sự nghiệp tu tập, là ba chân vạc chắc chắn của đời sống xuất gia. Do vậy, có thể nói, nếu không chuyển hóa để “ thọ trì tăng thượng Giới học, Định học và Tuệ học” thì người ấy chỉ là “hình đồng xuất gia” mà thôi.
Gần đây, người dân một số tỉnh miền Trung sống trong hoang mang trước tình trạng môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng mà đến nay vẫn chưa có lời giải thích thuyết phục. Phật giáo có thể giúp gì trong việc ngăn ngừa tình trạng tương tự?
Tuần lễ Phật đản đã trôi qua. Dù vậy, âm hưởng thiêng liêng của Đại lễ vẫn còn lắng đọng trong tâm thức của những người con Phật.
Mùa an cư là thời gian quan trọng nhất trong năm của hàng Tỳ kheo mà ý nghĩa tu học trong môi trường hoà hợp thanh tịnh được nổi bật nhất. Mỗi mùa an cư là một tuổi đạo cùa cuộc đời một Tỳ kheo. Đây là một Phật sự [8] vô cùng quan trọng và thiết thực của Tăng chúng, thể hiện lòng từ bi đối với muôn loài chúng sanh và làm nền tảng cho sự tu tập của hàng Phật tử tại gia. Đây cũng là thời gian thuận tiện cho giới cư sĩ tại gia có dịp thân cận chư Tăng học tập giáo pháp, đồng thời là cơ hội tạo phước báo nhân thiên qua việc hộ trì chúng Tăng trong suốt mùa An cư.
Ngài chỉ thẳng Phật Pháp thân không sanh diệt đến đi, có đến đi là thuộc Hóa thân. Tuy hiện có sanh diệt đến đi mà thể hằng vắng lặng, như bóng trăng trong nước không thể nói có hay không.
Dứt bỏ mọi điều triền phược nơi tự tâm, thoát khỏi chốn lao tù ba cõi là một công trình lớn lao thiết thực, nhưng chưa phải là tuyệt đối hoàn toàn, chưa phải đã phá hết mê lầm thầm kín nhỏ nhiệm, đến đó chỉ phá được mê lầm về nhân ngã mà vẫn còn mê lầm về pháp ngã, nên phần trí giải cũng như phần thực hành còn ở trong vòng tương đối cả.
Tuổi trẻ như búp măng, cần phải uốn nắn sớm thì sau tre già mới thẳng. Nếu tuổi trẻ mà không hướng thiện, không tu dưỡng đạo đức thì không lấy gì đảm bảo có tuổi già hạnh phúc, thảnh thơi để đi chùa.
Đức Phật giác ngộ thấy thân này là giả, do đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Chất cứng là đất, chất ướt là nước, động là gió, ấm là lửa. Bốn thứ này đem vô trả ra. Còn mượn mà không trả ra thì chết. Như vậy ta có thân này, chẳng qua là cuộc sống vay mượn. Đó là điều thứ nhất.
Thuở xưa, khi Đức Phật còn tại thế, có lần nọ Ngài ngồi thiền định quán chiếu nhân duyên căn tánh của muôn loài. Bấy giờ, trong tinh xá, có vị thầy tên A Nậu Lâu Đà đang nổ lực chuyên tâm tu tập. Tôn giả quyết tham thiền cần cầu chứng thánh quả, không những ban ngày không ngủ, mà đêm cũng thức thâu canh, do vậy mà thời gian sau đôi mắt của tôn giả bị mù khi nào không hay biết.
Tất cả những ai tìm Phật ở ngoài cũng như người đi tìm “lông rùa, sừng thỏ”, chỉ khi nhận diện được các bản tánh của mình thì mới tin rằng: “Tâm tức là Phật” và bản tánh của mình đầy đủ tất cả, xưa nay vẫn thanh tịnh. Nhưng vì bị vẩn đục bởi những tham sân si, ô nhiễm bởi những ý tưởng, vọng niệm cho nên như mặt trời bị áng mây che lấp không làm sao sáng tỏ được.
Phật dạy chúng ta “Khẩu hòa vô tranh”. Phật biết được những hiểu lầm, kết oán của tất cả chúng sanh. Tám, chín phần mười đều do lời nói tạo thành, nên gọi là “Nói nhiều ắt sai”. Lời không nên nói quá nhiều, nói nhiều sẽ có sai lầm, dễ dàng dẫn đến nghi hoặc, hiểu lầm của người khác, thế là liền kết oán với người. Sau khi kết oán thì oan oan tương báo không hề ngừng dứt. Ngay trong hữu ý, vô ý tạo thành rất nhiều chướng nạn trên đạo Bồ đề, cho nên người xưa dạy chúng ta: “Nói ít một câu chuyện, niệm nhiều một câu Phật”. Bạn thấy như vậy tốt chừng nào.
Phật pháp không phụ thuộc hoàn toàn vào hội đoàn, chùa tháp, hình tượng, hay màu sắc chiếc áo cà sa của tăng lữ. Đạo Phật cần được trả về theo đúng bản chất của nó trong cách hiểu của nhân gian để góp phần làm tiêu tan những băng hoại suy đồi và làm hồi sinh những mầm móng nhân bản đã bị chôn vùi bởi sự vô minh của chính chúng ta.
Nghiệp được tạo thành qua thân, khẩu, ý có nguồn gốc nơi tâm. Chính nơi vọng tâm này mà tạo nghiệp do tham sân si thúc đẩy. Lìa bỏ vọng tâm, rũ sạch tham sân si, không vướng phiền não thì cũng dứt tạo nghiệp và dứt luôn nghiệp đã tạo. Vọng tâm rơi rụng thì nghiệp cũng rơi rụng theo đó.
Tiếng Phạn là Bát Đa La (Sanskrit patra – Haùn 鉢 盂, dịch là Ba Đa La, Bá Đát La, Bát Hòa La…) lại gọi là Bát vu, ứng pháp khí, ứng lượng khí. Bát vu là một trong những pháp khí mà Tỳ kheo phải mang theo bên mình dùng để khất thực (2), cho nên bình bát là Pháp khí thường thấy trong nhà Phật. Trong Phật giáo, nguyên do Phật chế định cho hàng Tỳ kheo trì bát có rất nhiều câu chuyện.
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HUYỆN A LƯỚI BAN TRỊ SỰ Văn phòng: Chùa Sơn Nguyên, 32 Giải phóng A So, thị trấn A Lưới, huyện A Lưới, thành phố Huế Điện thoại: 090 501 2992 - Email: phatgiaoaluoi@gmail.com Website: www.phatgiaoaluoi.com LỜI NÓI ĐẦU Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật...

Xin ghi rõ nguồn chính khi trích dẫn thông tin từ website này.
Ngày thành lập : 12-09-2012